Ngày 23-7-1959
Khi trao đổi với các nhà lãnh đạo, Người nói: “Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, Liên Xô nói chung, Azecbaizan nói riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng được những khu công nghiệp dầu khí mạnh như Bacu”. Sự kiện này thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, mong ước và quyết tâm xây dựng ngành Dầu khí Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 27-11-1961
Trên cơ sở nhận định về triển vọng dầu khí ở miền Bắc Việt Nam và căn cứ Nghị định 159-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 09/7/1961, để triển khai công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí, Tổng cục Địa chất đã ra quyết định số 271 ĐC ngày 27/11/1961 thành lập Đoàn Thăm dò dầu lửa với số hiệu là Đoàn 36 dầu lửa (thường gọi là Đoàn 36) trực thuộc Tổng cục Địa chất. Đoàn 36 có nhiệm vụ tiến hành tìm kiếm thăm dò dầu hỏa và khí đốt trên phạm vi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là dấu mốc lịch sử mở đầu một thời kỳ hoạt động dầu khí có tổ chức ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (sau này ngày 27 tháng 11 đã được nhà nước công nhận là Ngày Truyền thống Dầu khí Việt Nam).
Tháng 3-1975
Mỏ khí Tiền Hải có trữ lượng tại chỗ khoảng 1,3 tỷ mét khối, trữ lượng thu hồi khoảng hơn 600 triệu mét khối, được xem là một mỏ rất nhỏ nhưng vào thời kỳ đó đã được các cấp lãnh đạo nhà nước và bộ ngành rất quan tâm. Sau một thời gian khai thác thử, Hội đồng Bộ trưởng đã chỉ đạo: “Tổng cục Dầu khí lập phương án khai thác hợp lý và hiệu quả nhất với sản lượng khai thác 45-50 triệu mét khối năm trong thời gian 20-25 năm đủ khí cung cấp cho các hộ tiêu thụ điện, gốm sứ, thủy tinh thuộc Bộ Điện lực, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Hóa chất, tỉnh Thái Bình, nguồn thu có được từ bán khí phải nộp vào ngân sách nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Ngày 3-9-1975
Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam (Tổng cục Dầu khí Việt Nam) được thành lập theo Quyết định số 170/CP của Hội đồng chính phủ. Khi đó, Tổng cục Dầu khí Việt Nam là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, được tổ chức, hoạt động như một cơ quan ngang bộ và là một cơ quan quản lý nhà nước với nhiệm vụ 'thực hiện quản lý nhà nước về toàn bộ tài nguyên dầu mỏ và khí đốt trong cả nước, kể cả trên đất liền và ngoài biển; tổ chức việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu mỏ trong và ngoài nước...'. Ngày 03 tháng 9 được công nhận là Ngày Thành lập Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Ngày 9-9-1977
Chính phủ ra Quyết định số 251/CP thành lập Công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam, gọi tắt là Petrovietnam, trực thuộc Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam.
Ngày 3-7-1980
Tại điện Kremli-Moskva, dưới sự chứng kiến của hai Tổng Bí thư Lê Duẩn và Brêgiơnev L.I., Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Việt Nam Nguyễn Lam và Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô Baibakov N.K. đã ký 'Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết về việc hợp tác tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam'. Hiệp định gồm 6 điều thể hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản coi như là Hiệp định khung mở đường cho một Hiệp định cụ thể tiếp theo để triển khai công việc thăm dò địa chất và khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngày 19-4-1981
Dòng khí công nghiệp đầu tiên tại Giếng khoan 61 mỏ Tiền Hải C (trầm tích Mioxen, hệ tầng Tiên Hưng, chiều sâu 1146-1156) với lưu lượng 100.000 m3/ngày đêm đã được đưa vào buồng đốt tuabin nhiệt điện tại Tiền Hải phát ra dòng điện công suất 10 MW hòa lưới quốc gia. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu lần đầu tiên ngành dầu khí Việt Nam được ghi tên trên bản đồ dầu khí thế giới, mở ra triển vọng to lớn trên hành trình tìm kiếm, khai thác nguồn tài nguyên làm giàu cho đất nước và tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam.
Ngày 19-06-1981
Ngày 19/6/1981 tại Moskva, Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Trần Quỳnh và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Katusev K.F. đã ký 'Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết về việc thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu và khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam'.
Ngày 25-5-1984
Ngày 25/12/1983, tàu Mikhail Mirchin đã khoan giếng thăm dò BH-5 đầu tiên tại Mỏ Bạch Hổ và 5 tháng sau, tức ngày 25/5/1984, đã phát hiện ra dòng dầu công nghiệp đầu tiên. Liên tục sau đó mỏ Rồng được phát hiện vào ngày 21/6/1985 và mỏ Đại Hùng được phát hiện vào ngày 18/7/1988, mở ra giai đoạn mới cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.
Ngày 26-6-1986
Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của một ngành công nghiệp mới – công nghiệp khai thác dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam và đưa nước ta trở thành một trong số các quốc gia khai thác và xuất khẩu dầu trên thế giới. Năm 1988, Xí nghiệp Liên doanh khai thác tầng dầu sản lượng cao từ móng đá granit nứt nẻ ở mỏ Bạch Hổ với lưu lượng mỗi giếng trên 1.000m3/ngày đêm, và mỏ này được xếp vào trong số các mỏ có trữ lượng dầu khí lớn nhất Đông Nam Á.
Ngày 6-7-1990
Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất các tổ chức làm công tác dầu khí thuộc Tổng cục Dầu khí cũ, là tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng, có trách nhiệm nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến, xuất nhập khẩu, tổ chức tiêu thụ trên thị trường nội địa các sản phẩm dầu mỏ và khí đốt. Thời kỳ này, Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Bộ Công nghiệp nặng. Ngày 06/07/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số 251-CT bổ nhiệm ông Trương Thiên giữ chức Tổng giám đốc Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam.
Ngày 14-4-1992
Chính phủ ra Quyết định số 125-HĐBT về việc đặt Tổng công ty Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng.
Ngày 17-4-1995
Khí đồng hành thu gom từ mỏ Bạch Hổ đã được vận chuyển vào bờ, đưa đến trạm phân phối khí Bà Rịa và cung cấp khí cho nhà máy điện Bà Rịa. Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện theo thông lệ quốc tế và kinh nghiệm thực tế từ dự án này đã góp phần to lớn vào việc hình thành phương thức quản lý các dự án tiếp theo của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam nói riêng, cũng như việc xây dựng các Quy chế, Quy định và Luật về xây dựng và đấu thầu của Việt Nam nói chung.
Ngày 29-5-1995
Thành lập Tổng công ty Dầu khí Việt Nam. Tổng công ty Dầu khí Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại Tổng công ty Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam, và là Tổng công ty Nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; có nhiệm vụ nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến, tàng trữ, vận chuyển, làm dịch vụ về dầu khí; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị dầu khí, dầu thô, các sản phẩm dầu khí; lưu thông các sản phẩm dầu khí... Tổng công ty được tiến hành các hoạt động dầu khí trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và hải đảo thuộc chủ quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được tiến hành các hoạt động dầu khí ở nước ngoài khi Chính phủ cho phép.
Ngày 9-7-1999
Nhà máy khí hóa lỏng (LPG) đầu tiên của Việt Nam được khởi công xây dựng vào ngày 04/10/1997. Nhà máy xử lý khí Dinh Cố và hệ thống thu truyền dữ liệu được điều khiển tự động với tổng số vốn đầu tư là 79 triệu USD, xây dựng tại Dinh Cố, xã An Ngãi, Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu với diện tích 89.600 m2. Nhà máy được thiết kế với công suất 1,5 tỷ m3 khí/năm.
Ngày 15-12-2004
Dự án Nhà máy đạm Phú Mỹ được đánh giá là rất thành công. Lần đầu tiên một công trình trọng điểm nằm trong chương trình khí-điện-đạm của Nhà nước đạt được cả 3 mục tiêu: chất lượng, tiến độ và hiệu quả. Nhà máy đạm Phú Mỹ sử dụng các công nghệ tiên tiến sản xuất amoniac của hãng Haldor Topsoe (Đan Mạch) và sản xuất ure của SnamProgetti (Italia), thiết bị hiện đại của các nước G7 và EU theo tiêu chuẩn quốc tế, khi chạy thử là ra được sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng và đạt công suất thiết kế. Tiến độ xây dựng được hoàn thành trong 34 tháng. Chi phí đầu tư 380 triệu USD; so với Tổng dự toán được duyệt là 445 triệu USD, thì tiết kiệm được 65 triệu USD; so với hạn mức đầu tư là 486 triệu USD thì tiết kiệm được 106 triệu USD. Chỉ sau 5 năm nhà máy đã thu hồi vốn và trả hết nợ vốn vay.
Ngày 29-8-2006
Nhằm tạo cơ sở pháp lý, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý phù hợp và thuận lợi cho việc phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 198/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Quyết định số 199/2006/QĐ-TTg thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Với Quyết định trên, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam chính thức trở thành Công ty Nhà nước hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con được tổ chức lại trên cơ sở bộ máy cơ quan Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và các đơn vị trực thuộc.
Ngày 23-9-2006
Lô PM 304, có diện tích 10.260 km2, nằm trên thềm lục địa phía Đông bán đảo Malaysia, thuộc bể trầm tích Malay-Thổ Chu. Hợp đồng PSC lô PM-304 gồm các bên là Petrofac 30% là Nhà điều hành; Petronas Carigali 30%; Kufpec 25% và PIDC 15% (năm 2006). Dòng dầu đầu tiên từ mỏ Cendor, lô PM 304 Malaysia đã được khai thác vào ngày 23/9/2006, sản lượng khai thác vào tháng 11/2006 là 12.000 thùng/ngày (~1.622 tấn/ngày).
Ngày 4-4-2007
Đúng 11 giờ 40 phút ngày 4-4-2007, từ rừng U Minh hạ, tuốc bin 1 Nhà máy điện Cà Mau 1 đã hòa lưới điện quốc gia. Đây là sự nỗ lực, quyết tâm không ngừng của CBCNV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam, các nhà thầu nước ngoài và Đảng bộ, chính quyền địa phương. Tuốc bin 1 Nhà máy điện Cà Mau 1 có công suất 230 MWh (chạy bằng dầu DO) và 250 MWh (chạy bằng khí) hòa lưới điện quốc gia là sự kiện có ý nghĩa to lớn trong thời điểm cả nước đang thiếu điện.
Ngày 27-12-2008
Nhà máy điện Cà Mau 1, Cà Mau 2 và đường ống dẫn khí PM3 - Cà Mau thuộc tổ hợp dự án cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau là một trong những công trình trọng điểm quốc gia về dầu khí do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được giao làm chủ đầu tư, được xây dựng tại xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, trên một diện tích hơn 200 ha, bao gồm các dự án: đường ống dẫn khí PM3-Cà Mau; các nhà máy Điện Cà Mau 1 và Cà Mau 2; nhà máy Đạm Cà Mau. Nhà máy điện Cà Mau 1, Cà Mau 2 (tổng mức đầu tư trên 860 triệu USD) có tổng công suất 1500MW sử dụng công nghệ tua-bin khí chu trình hỗn hợp thế hệ mới có khả năng cung cấp trên 9 tỷ KWh điện/năm, sử dụng nhiên liệu khí thiên nhiên khai thác từ khu vực chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia qua hệ thống đường ống PM3-Cà Mau. Hệ thống đường ống dẫn khí PM3-Cà Mau dài trên 300km với công suất vận chuyển hơn 2 tỷ m3 khí/năm, tổng mức đầu tư khoảng 300 triệu USD.
Ngày 19-1-2009
Tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lao động, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước dành cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tới dự, trao danh hiệu Anh hùng Lao động cho tập thể người lao động Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Kể từ năm 1986 - thời điểm tấn dầu thô đầu tiên được khai thác từ mỏ Bach Hổ đến năm 2009, hàng năm Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đóng góp khoảng 20% vào GDP và 30% vào tổng thu ngân sách của đất nước, kim ngạch xuất khẩu trong toàn Tập đoàn chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Ngày 13-6-2010
Tại Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã tổ chức Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ II và Lễ đón nhận Huân chương Sao vàng. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đến dự và trao Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quí nhất của Đảng và Nhà nước tặng thưởng Tập đoàn vì đã có công lao to lớn đặc biệt xuất sắc, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Trải qua gần 50 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ cán bộ công nhân viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã phát huy truyền thống Anh hùng, tích cực xây dựng và thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, đóng góp tích cực vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng đất nước phát triển, hội nhập.
Năm 2011
Giàn khoan tự nâng 90m nước là công trình cơ khí trọng điểm quốc gia lần đầu tiên được chế tạo tại Việt Nam do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam làm chủ đầu tư và Công ty Cổ phần Chế tạo giàn khoan dầu khí làm tổng thầu EPC. Giàn khoan tự nâng 90m nước có trọng lượng lên tới gần 12.000 tấn, chiều dài chân 145m, hoạt động ở độ sâu 90m và khoan đến 6,1km, có thể chịu được sức gió tương đương bão cấp 12, trên cấp 12, chịu được các điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Đây là công trình đòi hỏi kỹ thuật cao theo tiêu chuẩn quốc tế được Cơ quan Đăng kiểm Hàng hải Hoa Kỳ cấp chứng nhận. Sự kiện hạ thủy và khánh thành Giàn khoan tự nâng 90m nước đưa Việt Nam trở thành một trong 3 nước châu Á và là một trong 10 nước trên thế giới chế tạo được giàn khoan tự nâng đạt tiêu chuẩn quốc tế mà trước đây Việt Nam phải nhập khẩu.
Ngày 6-1-2011
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tổ chức Lễ khánh thành Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất - NMLD đầu tiên của Việt Nam - tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tham dự và phát biểu chỉ đạo tại sự kiện. Dự án xây dựng NMLD Dung Quất là quyết sách quan trọng của Đảng và Chính phủ trong việc hình thành ngành công nghiệp lọc hóa dầu của Việt Nam và phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Đây là công trình trọng điểm quốc gia được Chính phủ giao cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam triển khai tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi, NMLD Dung Quất, được xây dựng trên tổng diện tích 337 ha mặt đất và 471 ha mặt biển, có công suất chế biến 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, sản phẩm gồm khí hóa lỏng LPG, Xăng 92/95, Dầu hỏa, Nhiên liệu phản lực, Diesel ôtô, Dầu nhiên liệu FO, lưu huỳnh và hạt nhựa Polypropylen (PP). Với việc hoàn thành công trình này, ngành Công nghiệp dầu khí Việt Nam đã phát triển đồng bộ từ tìm kiếm thăm dò, khai thác đến lọc hóa dầu, công nghiệp khí, công nghiệp điện và dịch vụ dầu khí chất lượng cao.
Ngày 17-9-2015
Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 có công suất 1200 MW (2x600 MW) đã đưa vào vận hành thương mại tổ máy số 01 từ ngày 31/12/2014 và tổ máy số 02 từ ngày 12/5/2015. Đây là Nhà máy nhiệt điện than có công suất tổ máy lớn, sử dụng công nghệ đốt than phun trực tiếp tiên tiến, hiệu suất cao, đáp ứng tốt yêu cầu về bảo vệ môi trường, hàng năm cung cấp cho hệ thống khoảng 7,2 tỷ kWh điện.

​​​​​​