TS Nguyễn Hùng Dũng: Cần hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo cao

14/08/2026 75 lượt xem Tác giả: Đình Khương - Ngọc Hà
Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, để ngành năng lượng trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mới, cần đồng bộ hóa thể chế, hoàn thiện thị trường năng lượng và phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng.
0:00 0:00

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, yêu cầu đặt ra đối với ngành năng lượng không chỉ là bảo đảm đủ điện, đủ nhiên liệu cho sản xuất và đời sống, mà còn phải hình thành một thị trường năng lượng hiện đại, cạnh tranh, có khả năng thích ứng với quá trình chuyển dịch năng lượng toàn cầu.

Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng phát biểu tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức ngày 11/8/2026.
Anh hùng Lao động, TS Nguyễn Hùng Dũng phát biểu tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức ngày 11/8/2026.
Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, những năm qua, ngành năng lượng Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc. Hệ thống điện quốc gia được mở rộng nhanh chóng; hạ tầng dầu khí từng bước hoàn thiện; các nhà máy lọc dầu, khí, nhiệt điện, thủy điện và năng lượng tái tạo được hình thành tương đối đồng bộ, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng.

Tuy nhiên, quy mô ngành càng lớn thì yêu cầu về cơ chế, chính sách và hạ tầng càng cao. “Quy hoạch chỉ là điều kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ”, TS Nguyễn Hùng Dũng nhấn mạnh, cho rằng để các dự án đi vào khai thác và phát huy hiệu quả, cần có cơ chế đồng bộ, tránh lãng phí nguồn lực và bảo đảm hiệu quả cho doanh nghiệp.

Theo TS Nguyễn Hùng Dũng, hiện có bốn nhóm điểm nghẽn chính đang ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành năng lượng. Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách chưa đồng bộ. Một dự án năng lượng có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của Luật Điện lực, Luật Dầu khí, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên biển và nhiều văn bản hướng dẫn khác. Việc các quy định còn giao thoa có thể kéo dài thời gian chuẩn bị và triển khai dự án.

Thứ hai, thị trường năng lượng chưa phát triển đầy đủ. Thị trường khí và LNG gần như chưa hình thành, trong khi cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện, bao tiêu sản lượng và bảo đảm huy động công suất vẫn còn những vướng mắc.

Đặc biệt, LNG là lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, với chuỗi giá trị kéo dài từ kho cảng, vận chuyển, nhập khẩu khí đến nhà máy điện. Nếu cơ chế bao tiêu sản lượng và bảo đảm huy động công suất chưa hoàn thiện, nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn trong việc xây dựng phương án tài chính và thu xếp vốn.

Thứ ba, phát triển nguồn điện chưa đồng bộ với hạ tầng truyền tải và lưu trữ. Thực tế có những dự án điện, điện mặt trời có nguồn nhưng chưa được huy động đầy đủ, gây lãng phí nguồn lực. Trong khi đó, cơ chế huy động khu vực tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng truyền tải vẫn còn hạn chế.

Thứ tư, thiếu cơ chế phù hợp cho các ngành năng lượng mới. Hydrogen, thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), nhiên liệu xanh hay các giải pháp lưu trữ năng lượng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi, định giá và thị trường tiêu thụ. Việc thiếu những nền tảng này khiến doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư, còn các tổ chức tài chính khó đánh giá hiệu quả dự án.

Các chuyên gia tham gia phiên thảo luận “Từ thể chế đến thực thi: Kiến tạo nền năng lượng cạnh tranh và bền vững”.
Các chuyên gia tham gia phiên thảo luận “Từ thể chế đến thực thi: Kiến tạo nền năng lượng cạnh tranh và bền vững”.
Trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng, nguy cơ gián đoạn các tuyến hàng hải quốc tế cũng đặt ra yêu cầu nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng. Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn cung, xây dựng cơ chế dự trữ năng lượng chiến lược và chủ động hơn trước các biến động bên ngoài.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, TS Nguyễn Hùng Dũng đề xuất trước hết hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, ổn định và có tính dự báo cao. Cần rà soát các quy định liên quan đến đầu tư năng lượng, bảo đảm thống nhất giữa các luật chuyên ngành, đồng thời đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án.

Cùng với đó, cần xây dựng đầy đủ thị trường năng lượng cạnh tranh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. TS Nguyễn Hùng Dũng cũng đề xuất sớm hoàn thiện cơ chế giá điện, thị trường khí và LNG, hợp đồng mua bán điện dài hạn, cơ chế chia sẻ rủi ro, tín chỉ carbon và các công cụ tài chính nhằm thu hút nguồn vốn tư nhân, quốc tế.

Một nội dung đáng chú ý khác là yêu cầu phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng đồng bộ. Không chỉ đầu tư nguồn điện, Việt Nam cần phát triển đồng thời hạ tầng truyền tải, hệ thống lưu trữ, chuỗi cung ứng thiết bị, công nghiệp chế tạo, dịch vụ kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đặc biệt, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen và các ngành năng lượng mới. Qua đó, Việt Nam không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng mà còn nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tạo thêm năng lực công nghiệp và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Từ góc nhìn này, hoàn thiện thể chế năng lượng không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn cho từng dự án mà còn là điều kiện để huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, tạo nền tảng hình thành một thị trường năng lượng cạnh tranh và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động trong nước và quốc tế.

Chia sẻ: