Petrovietnam kiến tạo trung tâm công nghiệp năng lượng từ sức mạnh “chuỗi giá trị”

11/08/2026 141 lượt xem Tác giả: Thanh Ngọc - Hiền Anh (thực hiện)
Thực tiễn cho thấy, đối với Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) việc đầu tư xây dựng các trung tâm công nghiệp năng lượng là định hướng chiến lược phát triển quan trọng, góp phần củng cố, phát huy chuỗi giá trị và tạo động lực tăng trưởng mới. Phóng viên đã có trao đổi với TS Phan Minh Quốc Bình, Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) để làm rõ hơn về nội dung này.
0:00 0:00

PV: Được biết, thời gian gần đây, Petrovietnam đã làm việc với các địa phương như TP Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh… về việc phát triển các trung tâm công nghiệp - năng lượng. Là người trực tiếp tham gia xây dựng Đề án tại Hà Tĩnh, xin ông thông tin một cách khái quát về mô hình Trung tâm công nghiệp năng lượng (TTCNNL).

TS Phan Minh Quốc Bình: Trước tiên phải khẳng định rằng chủ trương hình thành các Trung tâm công nghiệp năng lượng quốc gia được đề ra tại Nghị quyết số 70-NQ/TW (NQ 70) do Bộ Chính trị ban hành ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thực hiện tinh thần của NQ 70, HĐTV Petrovietnam đã định hướng và chỉ đạo VPI chủ trì phối hợp các đơn vị trong Tập đoàn xây dựng Đề án tổng thể phát triển các TTCNNL Petrovietnam tại các địa phương có tiềm năng phát triển công nghiệp - năng lượng như TP HCM, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Cần Thơ, Cà Mau…

Cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau.
Cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau.
TTCNNL Petrovietnam là một hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng tích hợp, quy mô lớn, được quy hoạch và phát triển dưới vai trò dẫn dắt của Petrovietnam. Mô hình được thiết kế mở, không bị giới hạn bởi ranh giới hành chính mà được xác định bởi phạm vi liên kết hiệu quả và được xây dựng dựa trên các nguyên tắc bền vững, kinh tế tuần hoàn và cộng sinh công nghiệp, nhằm tối đa hóa chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo hiệu quả và đạt các mục tiêu theo chiến lược phát triển Petrovietnam

Mô hình này được thiết kế trên 3 trụ cột chiến lược liên kết hữu cơ với nhau thông qua việc dùng chung hạ tầng (cảng, kho, đường ống) và trao đổi sản phẩm/phụ phẩm.

Trong đó, trụ cột Năng lượng là nền tảng, cung cấp từ năng lượng truyền thống (khí, LNG, điện) đến các nguồn năng lượng xanh của tương lai (điện gió ngoài khơi, hydrogen, amoniac xanh).

Trụ cột Công nghiệp tập trung chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng cao như lọc hóa dầu, hóa chất chuyên dụng, phân bón xanh, vật liệu mới và cơ khí chế tạo.

Trụ cột Dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao, cung cấp "mạch máu" cho toàn hệ thống thông qua logistics cảng biển, vận hành - bảo dưỡng (O&M), hạ tầng số (Data Center, AI) và R&D.

PV: Trên thế giới, việc hình thành và phát triển các Trung tâm công nghiệp năng lượng như thế nào, thưa ông?

TS Phan Minh Quốc Bình: Trên toàn cầu, các trung tâm năng lượng đang trải qua một cuộc chuyển đổi sâu sắc để giải quyết "bộ ba" thách thức gồm: Đảm bảo an ninh năng lượng; Tối ưu hóa chi phí (qua hạ tầng dùng chung); Chuyển dịch sang mô hình Net Zero.

Sơ đồ trung tâm công nghiệp năng lượng Petrovietnam dự kiến triển khai tại Hà Tĩnh.
Sơ đồ trung tâm công nghiệp năng lượng Petrovietnam dự kiến triển khai tại Hà Tĩnh.
Nghiên cứu các mô hình hàng đầu thế giới, chúng tôi rút ra 3 bài học mang tính quy luật.

Thứ nhất, vai trò của "Nhà phát triển tổng thể" (Master Developer): Tại Pengerang (Malaysia), chính phủ lập ra JPDC làm đầu mối điều phối toàn bộ quy hoạch và hạ tầng. Điều này giúp loại bỏ sự phân mảnh, tạo ra một "luật chơi" thống nhất cho mọi nhà đầu tư.

Thứ hai, hạ tầng "Plug & Play" (Cắm và Chạy): Tại Jurong Island (Singapore), nhà nước đầu tư sẵn hệ thống hạ tầng dùng chung (cảng, kho, điện, nước, khí công nghiệp). Nhà đầu tư thứ cấp chỉ việc "cắm" dự án vào mạng lưới này, giúp họ tiết kiệm khổng lồ chi phí CAPEX và rút ngắn thời gian triển khai.

Thứ ba, sự linh hoạt chuyển đổi và cộng sinh: Cảng Esbjerg (Đan Mạch) đã thành công rực rỡ khi chuyển đổi từ cảng dịch vụ dầu khí truyền thống sang trung tâm logistics và O&M số 1 thế giới về điện gió ngoài khơi. Hay tại Kalundborg (Đan Mạch), mô hình cộng sinh công nghiệp đã chứng minh giá trị kinh tế khổng lồ khi "chất thải của nhà máy này là tài nguyên của nhà máy khác".

Những bài học này chính là "hệ gen" được chúng tôi cấy ghép vào mô hình TTCNNL Petrovietnam.

PV: Theo ông, đâu là những đặc trưng cốt lõi giúp phân biệt mô hình này với một khu công nghiệp hoặc một tổ hợp năng lượng thông thường? Cách thức các dự án thành phần liên kết, hỗ trợ và tạo giá trị cộng hưởng trong toàn chuỗi diễn ra như thế nào?

TS Phan Minh Quốc Bình: Điểm khác biệt định hình nên TTCNNL Petrovietnam nằm ở 6 đặc trưng cốt lõi: Tầm nhìn dài hạn & Xanh; Quy mô Quốc gia - Tầm nhìn Khu vực; Tích hợp - Cộng sinh - Chuỗi giá trị; Ứng dụng Công nghệ cao và Tích hợp số; Mô hình kinh doanh "Nền tảng Mở"; Năng suất vượt trội.

TS Phan Minh Quốc Bình trình bày về Đề án Nghiên cứu và đề xuất mô hình TTCNNL Petrovietnam.
TS Phan Minh Quốc Bình trình bày về Đề án Nghiên cứu và đề xuất mô hình TTCNNL Petrovietnam.
Sự khác biệt lớn nhất nằm ở "Cộng sinh chuỗi giá trị". Trong một khu công nghiệp bình thường, các doanh nghiệp chỉ thuê đất và hoạt động độc lập. Tại TTCNNL Petrovietnam, đây là những mắt xích hữu cơ. Giá trị cộng hưởng được tạo ra trên nhiều cấp độ. LNG có thể đồng thời phục vụ phát điện, sản xuất khí công nghiệp và cung cấp cho các hộ tiêu thụ lớn. Nhiệt lạnh từ quá trình tái hóa khí có thể được tận dụng cho sản xuất khí công nghiệp hoặc nhu cầu làm mát các thiết bị sử dụng điện của trung tâm dữ liệu. CO₂ từ các cơ sở phát thải lớn có thể được thu hồi, lưu trữ hoặc sử dụng làm nguyên liệu. Năng lượng tái tạo có thể cung cấp cho trung tâm dữ liệu và sản xuất hydrogen xanh.

Các dự án cũng dùng chung cảng, kho, đường ống, trạm điện, hệ thống nước, xử lý nước thải, logistics và dịch vụ O&M. Nhờ đó, Trung tâm giảm đầu tư trùng lặp, giảm chi phí vận hành, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải.

Các quan hệ liên kết phải dựa trên nguyên tắc thị trường, có hợp đồng rõ ràng và bảo đảm lợi ích của các bên.

PV: Với việc là một thành viên tham gia xây dựng đề án này, ông kỳ vọng như thế nào vào việc hình thành TTCNNL?

TS Phan Minh Quốc Bình: Việc phát triển các TTCNNL trước hết là một định hướng chiến lược của Petrovietnam. Đây là công cụ để Petrovietnam chuyển từ phát triển các dự án riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng tích hợp, qua đó tối ưu tài sản hiện hữu, mở rộng chuỗi giá trị và tạo thêm các nguồn doanh thu mới.

Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường kiểm tra tiến độ triển khai Nhà máy Điện Ô Môn 3 và Ô Môn 4 thuộc Chuỗi dự án khí - điện Lô B
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường kiểm tra tiến độ triển khai Nhà máy Điện Ô Môn 3 và Ô Môn 4 thuộc Chuỗi dự án khí - điện Lô B
Thông qua các chuỗi LNG - điện khí, lọc hóa dầu - hóa chất, năng lượng tái tạo, hydrogen/ammonia xanh, CCUS, logistics, dịch vụ kỹ thuật và trung tâm dữ liệu, các trung tâm được kỳ vọng đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng “hai con số” của Petrovietnam. Theo tính toán sơ bộ trong Đề án, riêng giai đoạn đến năm 2030, hệ thống các trung tâm có thể tạo ra nguồn doanh thu thường niên đáng kể, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu đưa Petrovietnam trở thành tập đoàn hàng đầu khu vực và gia nhập danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Fortune Global 500) vào năm 2030.

Về an ninh năng lượng, các TTCNNL sẽ kết hợp LNG, điện khí, điện gió ngoài khơi và các nguồn năng lượng mới trong một hệ thống có tính hỗ trợ lẫn nhau. Việc đa dạng hóa nguồn cung giúp giảm nguy cơ thiếu điện, hạn chế rủi ro gián đoạn nhiên liệu và tăng khả năng thích ứng trước biến động của thị trường năng lượng quốc tế.

“Đề án TTCNNL là một trong những định hướng chiến lược và mang nhiều kỳ vọng của Petrovietnam trong giai đoạn phát triển mới. Đề án sẽ tập trung vào các lĩnh vực có lợi thế của Petrovietnam như công nghiệp khí, LNG. Bên cạnh đó, với lợi thế chuỗi giá trị hoàn chỉnh, hoạt động đa lĩnh vực và quy mô lớn cho phép Tập đoàn đảm đương các dự án có vốn đầu tư hàng tỷ USD”
Tổng Giám đốc Petrovietnam Lê Mạnh Cường

Về phát triển công nghiệp, các trung tâm tạo điều kiện mở rộng sang các ngành chế biến sâu như hóa chất, khí công nghiệp, vật liệu mới, nhiên liệu sạch và cơ khí chế tạo. Qua đó, Petrovietnam không chỉ cung cấp năng lượng và nguyên liệu mà còn tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản phẩm, phát triển dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Về chuyển dịch xanh, mô hình cho phép tích hợp năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng hiệu quả, thu hồi và sử dụng CO₂, tuần hoàn nguyên liệu và phụ phẩm. Trung tâm dữ liệu, AI và hạ tầng số đồng thời hỗ trợ điều hành, tối ưu vận hành và tạo nền tảng thu hút các ngành công nghệ cao.

Đối với địa phương, các TTCNNL có thể thu hút các dự án quy mô lớn, phát triển hạ tầng cảng biển và logistics, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và thúc đẩy công nghiệp phụ trợ, dịch vụ kỹ thuật, đào tạo. Vì vậy, đây vừa là động lực tăng trưởng mới của Petrovietnam, vừa góp phần hình thành các cực tăng trưởng công nghiệp - năng lượng tại các địa bàn chiến lược, phù hợp với các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển công nghiệp và liên kết vùng.

PV: Mô hình Trung tâm công nghiệp - năng lượng bao gồm nhiều dự án thành phần được triển khai với quy mô và tiến độ khác nhau. Theo ông, để triển khai thành công, cần ưu tiên tháo gỡ những điểm nghẽn nào về quy hoạch, đất đai, thủ tục đầu tư, hạ tầng kết nối và cơ chế ưu đãi? Đặc biệt, cần có chính sách gì để thu hút những dự án mới như trung tâm dữ liệu, công nghiệp khí và các chuỗi giá trị xanh?

TS Phan Minh Quốc Bình: Theo tôi, điểm nghẽn đầu tiên là quy hoạch. TCCNNL gồm các dự án thuộc nhiều lĩnh vực như điện lực, năng lượng, đất đai, cảng biển, giao thông, khu kinh tế và hạ tầng số. Vì vậy, cần có đề án và quy hoạch tổng thể làm cơ sở triển khai đồng bộ các dự án thành phần, tránh tình trạng mỗi dự án phải xử lý riêng từng thủ tục và quy hoạch.

Trung tâm công nghiệp năng lượng và hậu cần kỹ thuật của Petrovietnam tại TP Hồ Chí Minh.
Trung tâm công nghiệp năng lượng và hậu cần kỹ thuật của Petrovietnam tại TP Hồ Chí Minh.
Điểm nghẽn thứ hai là đất đai và mặt bằng. Địa phương cần chuẩn bị quỹ đất phù hợp, hành lang đường ống, hành lang lưới điện, khu vực cảng và hạ tầng giao thông. Công tác giải phóng mặt bằng phải được thực hiện sớm theo tiến độ chung của Trung tâm.

Về thủ tục đầu tư, cần áp dụng cơ chế một cửa, xử lý song song các thủ tục và xem xét áp dụng thủ tục đầu tư đặc biệt đối với các dự án đáp ứng điều kiện của Luật Đầu tư. Đối với hydrogen, ammonia xanh, CCUS và các mô hình trao đổi năng lượng nội khu, cần có cơ chế thử nghiệm phù hợp do đây là những lĩnh vực còn mới.

Về hạ tầng, Nhà nước và địa phương cần đầu tư đường giao thông, lưới điện, cảng, cấp nước và viễn thông đến hàng rào Trung tâm. Petrovietnam và các nhà đầu tư chịu trách nhiệm phát triển hạ tầng dùng chung bên trong.

Đối với trung tâm dữ liệu, cần bảo đảm nguồn điện ổn định, kết nối viễn thông, nguồn nước và hệ thống làm mát. Đối với công nghiệp khí và các chuỗi giá trị xanh, cần có cơ chế hợp đồng tiêu thụ dài hạn, tín dụng xanh, hỗ trợ R&D và chuyển giao công nghệ. Petrovietnam cần giữ vai trò đầu mối điều phối tổng thể giữa các dự án và nhà đầu tư.

PV: Mô hình Trung tâm công nghiệp - năng lượng sẽ đòi hỏi nguồn nhân lực đa ngành, từ LNG, điện khí, hóa chất, logistics đến công nghệ thông tin và vận hành trung tâm dữ liệu. Theo ông, Petrovietnam cũng như các đơn vị thành viên, các doanh nghiệp tham gia đầu tư, vận hành trung tâm cần chuẩn bị nguồn nhân lực như thế nào để vừa đáp ứng nhu cầu triển khai trước mắt, vừa hình thành đội ngũ kỹ thuật chất lượng cao phục vụ sự phát triển lâu dài của Trung tâm?

TS Phan Minh Quốc Bình: Việc chuẩn bị nguồn nhân lực đủ số lượng và chất lượng là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và hiệu quả đầu tư của các dự án. Do vậy, Petrovietnam cũng như các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư cần xác định các dự án lõi đầu tư trong Trung tâm để có lộ trình đặt hàng đào tạo, tuyển dụng, phát triển nguồn nhân lực từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, xây dựng và vận hành các dự án. Nguồn nhân lực cần được chuẩn bị theo từng giai đoạn và từng nhóm dự án của Trung tâm.

Chiến lược nhân sự của chúng tôi tuân thủ nguyên tắc: "Kế thừa nền tảng cốt lõi - Chuyển dịch linh hoạt - Mở rộng hợp tác".

Trong đó, Kế thừa và Chuyển dịch (Upskilling/Reskilling): Lợi thế tuyệt đối của Petrovietnam là sở hữu đội ngũ kỹ sư dầu khí, công trình biển, vận hành nhà máy điện/hóa chất hàng đầu Việt Nam. Chúng tôi đang lập kế hoạch đào tạo chuyển đổi: Kỹ sư công trình biển sẽ tham gia chế tạo/O&M điện gió ngoài khơi; Kỹ sư chế biến khí sẽ làm chủ công nghệ LNG, Hydrogen và CCUS.

Làm chủ Công nghệ tương lai: Với các lĩnh vực hoàn toàn mới như AI, Digital Twin hay quản lý Data Center, Tập đoàn sẽ thông qua các Viện nghiên cứu (VPI), Trường Đại học (PVU) để hợp tác chiến lược với các hãng công nghệ lớn, yêu cầu cam kết chuyển giao tri thức trong các gói thầu, đảm bảo người Việt Nam sớm làm chủ công nghệ vận hành.

Tạo hệ sinh thái đào tạo tại chỗ: Tại các TTCNNL, chúng tôi định hướng xây dựng các cơ sở R&D và trung tâm đào tạo thực hành ngay tại chỗ. Điều này không chỉ cung ứng nhân lực cho Trung tâm mà còn đào tạo đội ngũ kỹ thuật lành nghề cho toàn bộ khu vực, biến TTCNNL thành "Trung tâm Tri thức" của ngành công nghiệp – năng lượng.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi.

Chia sẻ: