Những cuộc chiến thầm lặng trên giàn Đại Hùng 01

11/08/2026 256 lượt xem Tác giả: Nguyễn Như Phong
Ít ai biết rằng, phía sau hành trình đưa Đại Hùng 01 trở thành một trong những mỏ dầu hiệu quả của Petrovietnam là những cuộc chiến âm thầm giữa biển khơi. Qua lời kể của anh Hoàng Văn Quang - người có 15 năm gắn bó với Đại Hùng 01, những ký ức về bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm của người dầu khí giữa biển khơi được tái hiện chân thực và đầy cảm xúc.
0:00 0:00

Tại hội thảo về những thành tựu khoa học - công nghệ trong hành trình đưa giàn Đại Hùng 01 từ tài sản được chuyển nhượng với giá tượng trưng chỉ 1 USD thành “con gà đẻ trứng vàng” của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), nhiều diễn giả đã nhắc đến những sự cố đặc biệt nghiêm trọng. Nếu không được xử lý kịp thời, các sự cố này có thể gây ra những hậu quả khôn lường đối với giàn khoan.

Điều khiến chúng tôi bất ngờ là trong những câu chuyện ấy, cái tên được nhắc đến nhiều nhất là anh Hoàng Văn Quang - Giàn trưởng Đại Hùng 01 khi đó, nay là Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam - CTCP (PV Power). Chính vì vậy, chúng tôi tìm gặp ông để nghe kể lại những ký ức của một thời gắn bó với Đại Hùng.

Trước đây, tôi đã nhiều lần gặp anh Quang khi anh còn là Tổng Giám đốc Tổng công ty Khí Việt Nam - CTCP (PV GAS). Thú thật, những lần gặp ấy không để lại trong tôi nhiều ấn tượng bởi anh là người rất kiệm lời, hầu như không bao giờ nói nhiều về bản thân.

Nhưng sau hội thảo về Đại Hùng 01, tôi khá ngạc nhiên khi nhiều bậc “lão làng” từng nhiều năm làm việc tại đây đều nói với tôi: “Ấy, muốn viết về Đại Hùng thì nhất định phải gặp Hoàng Văn Quang”.

Tác giả trao đổi cùng anh Hoàng Văn Quang
Tác giả trao đổi cùng anh Hoàng Văn Quang

Và thế là tôi tìm đến anh để nghe kể về những ký ức của những ngày làm việc trên giàn Đại Hùng 01.

Trước đó, từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, tôi đã phần nào hình dung được con đường nghề nghiệp của anh.

Hoàng Văn Quang gia nhập dự án Đại Hùng từ tháng 6/1994, sau khi ký hợp đồng với Công ty BHP Petroleum (Australia). Sau thời gian học tiếng Anh và tham gia các khóa đào tạo cơ bản về hoạt động ngoài khơi, đến cuối tháng 10/1994, anh chính thức ra giàn đúng vào thời điểm Đại Hùng đón dòng dầu đầu tiên (First oil).

Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, chuyên ngành cơ khí, sau một thời gian tham gia chương trình bồi dưỡng kỹ sư của ngành dầu khí, anh được phân công làm kỹ thuật viên khai thác trên giàn.

Trong suốt 15 năm gắn bó với Đại Hùng (từ tháng 10/1994 đến tháng 2/2010), anh lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí: thợ khai thác, trưởng ca khai thác, đốc công khai thác, giàn phó sản xuất (2005-2006) và từ năm 2007 giữ cương vị Giàn trưởng Đại Hùng 01.

Năm 2010, anh chuyển công tác về PV GAS. Tại đây, anh lần lượt đảm nhiệm các vị trí: Quyền Giám đốc rồi Giám đốc Công ty Dịch vụ Khí; năm 2019 kiêm nhiệm Giám đốc Chi nhánh Khí Hải Phòng; đầu năm 2020 được bổ nhiệm Phó Tổng Giám đốc PV GAS, đồng thời tiếp tục phụ trách Chi nhánh Khí Hải Phòng. Năm 2021, anh trở thành Tổng Giám đốc PV GAS; năm 2023 được điều động giữ chức Chủ tịch HĐQT PV Power.

Anh Hoàng Văn Quang (đứng thứ 3 từ phải sang) cùng các đồng nghiệp trên giàn Đại Hùng 01 (Ảnh tư liệu)
Anh Hoàng Văn Quang (đứng thứ 3 từ phải sang) cùng các đồng nghiệp trên giàn Đại Hùng 01 (Ảnh tư liệu)

Sau đây là câu chuyện của anh Hoàng Văn Quang.

Tôi hỏi: “Bây giờ, anh còn nhớ nhiều về những năm tháng làm việc ở Đại Hùng 01 không?”.

Anh Quang cười sảng khoái: “Nhớ chứ! Có những lúc nhớ đến mức chỉ muốn được trở lại giàn để cảm nhận cái lắc lư rất nhẹ của giàn bán chìm mỗi khi biển động”.

Anh bắt đầu kể: Giai đoạn trước khi Đại Hùng được chuyển giao về Vietsovpetro, tình hình khai thác tương đối ổn định, không có biến động quá đặc biệt. Tuy nhiên, sản lượng lúc ấy đã giảm rất mạnh, chỉ còn khoảng 3.000 thùng/ngày, trong khi thời điểm khai thác dòng dầu đầu tiên năm 1994 đạt khoảng 35.000 thùng/ngày.

Tôi hỏi: “Vì sao sản lượng lại giảm nhanh như vậy?”. Anh Quang giải thích: "Nguyên nhân chủ yếu là do giai đoạn đầu, phía nước ngoài khai thác với cường độ quá cao. Khi khai thác quá nhanh, tuổi thọ của giếng sẽ giảm. Chế độ khai thác khi đó chưa thực sự hợp lý. Họ xác định sẽ không ở lại lâu nên khai thác theo hướng tận thu, trong khi cách làm này ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ của giếng và làm giảm hệ số thu hồi dầu của mỏ".

Giàn Đại Hùng 01
Giàn Đại Hùng 01

Theo anh Quang, khi Đại Hùng được bàn giao cho Liên doanh Vietsovpetro, Ban lãnh đạo Xí nghiệp Đại Hùng đều do Vietsovpetro cử sang đảm nhiệm, còn đội ngũ trực tiếp vận hành trên giàn cơ bản vẫn được giữ nguyên.

Nhắc lại quãng thời gian ấy, anh Quang cho biết, đó là giai đoạn để lại nhiều dấu ấn nhất trong cuộc đời làm nghề của anh. “Khi sản lượng xuống thấp thì doanh thu, lợi nhuận đều giảm, vật tư rất thiếu thốn. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh khó khăn ấy, anh em luôn tìm mọi cách để giàn hoạt động an toàn và duy trì khai thác. Theo tôi, đó mới là lúc trí tuệ và nội lực của người dầu khí được thể hiện rõ nhất. Đến giai đoạn 2005-2006, dự án khoan bổ sung thêm 5 giếng mới và đưa vào khai thác, nhờ đó sản lượng tăng trở lại lên hơn 10.000 thùng/ngày”, anh nói.

Tôi chuyển sang một câu hỏi khác: “Anh từng trải qua một sự cố rất nghiêm trọng khi giàn đang nằm trong ụ sửa chữa. Anh có thể kể lại tình huống nguy hiểm đó không?”. Nét mặt anh Quang chợt trầm xuống. Phải mất vài giây im lặng, anh mới bắt đầu kể:

“Lần đầu tiên giàn Đại Hùng được đưa vào ụ để sửa chữa là tại Nhà máy Hyundai Vinashin, ở vịnh Vân Phong (Khánh Hòa), vào khoảng cuối quý III/2004. Khi đó, công việc sửa chữa gần như đã hoàn tất. Ban đầu, anh em ở nhà thuê bên ngoài nhà máy. Đến khi giàn chuẩn bị bàn giao, mọi người mới quay trở lại ở trên giàn.

Một buổi tối, sau khi đi ăn cùng vài đồng nghiệp, tôi trở về nhà máy. Khi đi dọc theo bờ kè phía trong, tôi bất chợt phát hiện một hiện tượng rất bất thường ở khu vực mũi giàn phía trước, bên trái. Tại đó, từ khu vực chân giàn xuất hiện một cột nước kèm theo bọt khí trắng xóa đang phụt lên liên tục.

Lúc ấy, có một số anh em cùng phát hiện hiện tượng này, trong đó tôi còn nhớ có anh Nguyễn Hữu Trung - thợ cơ khí, anh Lê Phúc Tăng - lái cẩu kiêm Deck Foreman (thủy thủ trưởng). Chúng tôi lập tức gọi điện báo cho những người đang ở trên giàn.

Thời điểm đó, tôi mới là Đốc công khai thác, chưa phải Giàn trưởng. Ngay sau khi quan sát, tôi nhận thấy giàn bắt đầu có dấu hiệu nghiêng.

Tôi lập tức yêu cầu toàn bộ anh em sơ tán khỏi giàn để bảo đảm an toàn. Sau khi mọi người rời đi, tôi cùng một số đồng nghiệp quyết định quay trở lại giàn để tìm cách xử lý.

Nhóm trực tiếp tham gia ứng cứu khi đó có anh Nguyễn Tất Hoàn, anh Nguyễn Văn Tạ - Thuyền phó hàng hải, anh Tiến Dũng - Marine Officer, anh Lê Phúc Tăng - Deck Foreman, anh Nguyễn Hữu Trung - thợ cơ khí, cùng một số anh em khác.

Khi chúng tôi lên tới nơi, tình hình đã trở nên hết sức nguy cấp. Giàn đã nghiêng hẳn về phía cầu cảng. Những sợi dây neo cỡ lớn buộc vào cọc bích đều bị kéo căng đến cực hạn. Chỉ cần một sợi dây bị đứt, khả năng giàn lật hoàn toàn là rất lớn. May mắn là toàn bộ hệ thống dây buộc vẫn còn giữ được giàn trong khi nước tiếp tục tràn vào bên trong.

Sau khi kiểm tra, chúng tôi nhanh chóng xác định nguyên nhân xuất phát từ hệ thống ballast tank (két dằn nước) ở phía mũi giàn.

Hôm đó là ngày tiến hành thử nghiệm hệ thống két ballast sau khi sửa chữa. Ban đầu, giàn vẫn nổi ổn định trong vịnh. Theo quy trình thử nghiệm, nhà máy sẽ bơm nước biển từ bên ngoài vào từng két ballast để kiểm tra khả năng làm việc của hệ thống. Mỗi két ballast có dung tích rất lớn, chứa tới hàng nghìn mét khối nước. Các pontoon của giàn có chiều cao khoảng 6-7m, bề rộng gần tương đương, còn chiều dài mỗi két phụ thuộc từng khoang cụ thể. Vì vậy, nếu thực hiện đúng quy trình, việc bơm nước vào từng két riêng lẻ sẽ không ảnh hưởng đến độ ổn định của giàn.

Tuy nhiên, một sai sót nghiêm trọng đã xảy ra. Đáng lẽ sau khi thử xong két thứ nhất, nước phải được chuyển sang két kế tiếp để tiếp tục thử nghiệm. Thế nhưng, công nhân của nhà máy lại tiếp tục lấy nước từ bên ngoài bơm thẳng vào két thứ hai. Điều đó khiến lượng nước trên giàn tăng gấp đôi so với tính toán thiết kế. Khối lượng nước tập trung quá lớn ở một góc khiến giàn bắt đầu chúi xuống.

Người lao động PVEP trên giàn Đại Hùng 01
Người lao động PVEP trên giàn Đại Hùng 01

Khi độ nghiêng tăng lên, nước biển tràn qua các nắp két ballast đang mở và đổ ồ ạt vào bên trong. Không khí bị ép thoát ra ngoài tạo thành cột nước và bọt khí trắng xóa phun mạnh lên mặt nước. Đó chính là hiện tượng mà tôi là người đầu tiên phát hiện.

Sau khi xác định đúng nguyên nhân, anh em nhanh chóng bàn phương án cứu giàn. Giải pháp duy nhất lúc đó là phải dằn nước sang góc chéo phía đối diện và phía sau nhằm tạo sự cân bằng, đưa phần nắp két đang bị ngập nổi trở lại trên mặt nước để có thể tiếp tục xử lý. Hệ thống ballast của giàn được thiết kế cho phép dằn nước đến tất cả các góc, vì vậy chúng tôi quyết định thực hiện theo phương án này.

Nhưng đúng lúc ấy lại phát sinh thêm một khó khăn khác. Hệ thống van điều khiển bằng thủy lực chưa thể vận hành. Nguyên nhân là giàn vẫn đang trong giai đoạn commissioning (chạy thử sau sửa chữa), toàn bộ hệ thống vừa được lắp đặt xong nhưng chưa hoàn thành việc nghiệm thu. Các bình dầu thủy lực điều khiển van vẫn chưa được nạp dầu.

Không còn thời gian để chần chừ. Anh em lập tức chia nhau khuân từng phi dầu, lăn từng thùng lên giàn, đổ dầu vào hệ thống để khẩn trương đưa cụm thủy lực vào hoạt động. Khi hệ thống thủy lực vận hành trở lại, chúng tôi mới có thể mở các van ballast, bơm nước sang phía đối diện để lấy lại cân bằng cho giàn, rồi tiếp tục bơm toàn bộ lượng nước đã tràn vào các két ra ngoài. Việc xử lý kéo dài suốt đêm và đến ngày hôm sau mới hoàn tất.

Sau khi giàn ổn định trở lại, chúng tôi tiếp tục kiểm tra toàn bộ kết cấu nhằm đánh giá xem việc nghiêng sâu trong thời gian dài có gây biến dạng hay xoắn kết cấu hay không. Đó thực sự là một sự cố cực kỳ nguy hiểm. Chỉ riêng chiều cao từ đáy pontoon lên đến mặt sàn chính của giàn đã khoảng 50m. Phía trên còn có tháp đuốc (flare tower) cao khoảng 60m, đưa tổng chiều cao của giàn lên hơn 100m. Nếu lúc đó dây neo bị đứt, giàn mất ổn định và lật hoàn toàn thì hậu quả sẽ không thể lường hết được. May mắn là các dây neo vẫn chịu được tải trọng, góc nghiêng của giàn chưa vượt quá giới hạn và toàn bộ sự cố đã được khống chế kịp thời”.

Anh Quang dừng lại vài giây rồi nói chậm rãi: “Đó là một trong những sự cố nguy hiểm nhất mà tôi từng trực tiếp tham gia xử lý. Thời điểm ấy, vụ việc cũng không được công bố nhiều trên báo chí, nhưng với những người có mặt hôm đó thì đó thực sự là một ký ức không bao giờ quên”.

Anh Quang cho rằng, nhiều khi trong những tình huống khẩn cấp ngoài khơi, chính những sáng kiến rất giản dị, xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn của người lao động, lại mang ý nghĩa quyết định.
Anh Quang cho rằng, nhiều khi trong những tình huống khẩn cấp ngoài khơi, chính những sáng kiến rất giản dị, xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn của người lao động, lại mang ý nghĩa quyết định.

Sau câu chuyện về sự cố thử két ballast, tôi nhớ lại một chi tiết anh Quang từng nhắc đến: sáng kiến dùng một tấm bạt để cứu giàn khi nước biển tràn vào. Tôi hỏi lại anh về sự việc ấy.

Anh Quang mỉm cười rồi đính chính: “Thực ra, đó là một sự cố khác, xảy ra ở thời điểm sau này khi giàn đang hoạt động ngoài khơi. Tôi không phải người trực tiếp chỉ huy xử lý, nhưng đây là một câu chuyện rất đáng nhớ”.

Theo lời anh kể, hôm đó anh em tiến hành sửa chữa hệ thống van sea chest - hệ thống lấy nước biển phục vụ cho phần hầm máy dưới đáy giàn, nơi bố trí toàn bộ hệ thống động lực và các bơm chính.

Để thực hiện công việc, phía bên ngoài thân giàn được bịt kín bằng một nắp thép có gioăng cao su nhằm ngăn nước biển tràn vào. Tuy nhiên, khi tháo van ở phía trong để sửa chữa, áp lực nước biển quá lớn đã làm bật gioăng cao su. Nước lập tức phun xối xả vào hầm máy.

Trong tình huống khẩn cấp ấy, anh em trên giàn đã đưa ra một sáng kiến rất đơn giản nhưng đặc biệt hiệu quả. Một tấm vải bạt lớn được thả xuống phía ngoài đúng vị trí nước đang tràn vào. Dưới tác động của lực hút, dòng nước đã kéo tấm bạt áp chặt vào lỗ hở, tạo thành một “nắp bịt” tạm thời, giúp giảm đáng kể lượng nước biển tiếp tục xâm nhập vào buồng máy.

Nhờ có thêm thời gian, lực lượng kỹ thuật nhanh chóng xử lý dứt điểm sự cố van sea chest, bảo đảm an toàn cho giàn và toàn bộ hệ thống thiết bị.

Anh Quang cho rằng, nhiều khi trong những tình huống khẩn cấp ngoài khơi, chính những sáng kiến rất giản dị, xuất phát từ kinh nghiệm thực tiễn của người lao động, lại mang ý nghĩa quyết định.

Câu chuyện về những sự cố trên giàn Đại Hùng khiến tôi càng cảm nhận rõ hơn giá trị của những năm tháng “thực chiến” giữa biển khơi. Tôi tiếp tục hỏi anh: “Những trải nghiệm ấy đã ảnh hưởng như thế nào đến tư duy quản trị và phong cách làm việc của anh sau này?”.

Anh Quang cười nhẹ rồi trả lời: “Điều đầu tiên tôi học được từ những năm tháng ngoài giàn là tinh thần luôn đặt công việc và trách nhiệm lên hàng đầu. Anh em ở ngoài khơi chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm sao hoàn thành công việc tốt nhất, bảo đảm an toàn nhất. 15 năm sống và làm việc trong môi trường ấy đã hình thành cho tôi thói quen khi bắt tay vào bất cứ việc gì cũng phải xác định rõ mục tiêu và tập trung toàn bộ để hoàn thành mục tiêu đó”.

Phòng điều khiển trung tâm mỏ Đại Hùng
Phòng điều khiển trung tâm mỏ Đại Hùng

 

Anh dừng lại một chút rồi nói tiếp: “Điều thứ hai là đặc thù của công việc đã rèn cho tôi khả năng tự quyết và chịu trách nhiệm”.

Anh giải thích rằng, tại Đại Hùng, người đứng đầu giàn không chỉ đơn thuần là Offshore Installation Manager (OIM) mà được giao vai trò Field Superintendent - người chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ mỏ.

Với vị trí Field Superintendent, quyền quyết định rất lớn. Trong nhiều tình huống, bộ máy ở trong bờ không thể can thiệp, bởi chỉ người trực tiếp ở hiện trường mới nắm rõ điều kiện thực tế để đưa ra quyết định: tiếp tục hay dừng khai thác, xử lý sự cố theo phương án nào, huy động nguồn lực ra sao... Mọi quyết định đều do Field Superintendent chịu trách nhiệm.

Theo anh Quang, cơ chế quản lý ấy xuất phát từ thực tế vận hành ngoài khơi. Người ở trong bờ không thể nhìn thấy đầy đủ những gì đang diễn ra tại hiện trường. Vì vậy, quy trình của công ty trao quyền rất lớn cho người chỉ huy ngoài giàn. Quyền càng lớn thì trách nhiệm càng lớn. Chính môi trường làm việc ấy đã định hình phong cách quản trị của anh.

Anh mỉm cười: “Tôi học được rằng, trong quản trị phải linh hoạt, phải biết thích ứng với từng hoàn cảnh cụ thể. Không nên quá cứng nhắc hay máy móc, bởi thực tế luôn khác với những gì được viết trong quy trình. Có lẽ đó là hai điều lớn nhất mà Đại Hùng đã dạy tôi và cũng là những điều theo tôi suốt chặng đường công tác sau này, dù ở bất kỳ cương vị nào”.

Nghe anh chia sẻ, tôi chợt hiểu vì sao nhiều đồng nghiệp vẫn gọi anh là một Field Superintendent đúng nghĩa, ngay cả khi anh đã rời giàn khoan từ nhiều năm trước. Tôi nói vui: “Mong rằng anh sẽ luôn giữ được tinh thần của một Field Superintendent”. Anh Quang chỉ cười.

Câu chuyện của chúng tôi khép lại ở đó. Nhưng những ký ức về Đại Hùng 01, về những con người đã bình tĩnh đối mặt với hiểm nguy giữa biển khơi và vượt qua bằng bản lĩnh, trí tuệ cùng tinh thần trách nhiệm, vẫn còn đọng lại rất lâu sau cuộc gặp.

Chia sẻ: