Khủng hoảng Hormuz: Châu Á thay đổi chiến lược năng lượng ra sao?

Giá dầu khí tăng mạnh buộc nhiều nước châu Á áp dụng các biện pháp tiết kiệm nhiên liệu như giới hạn giá, ngày lái xe luân phiên và làm việc tại nhà đối với công chức.
Sau khủng hoảng, các nước bắt đầu tìm giải pháp dài hạn: đưa nguồn dự trữ dầu khí đến gần thị trường tiêu thụ hơn và giảm phụ thuộc vào một tuyến vận chuyển duy nhất.
Theo Parul Bakshi, nghiên cứu viên tại Oxford Institute for Energy Studies, khủng hoảng đang thúc đẩy hai hướng đầu tư: xây dựng hạ tầng tránh rủi ro địa chính trị và phát triển hạ tầng nhằm giảm hoàn toàn sự phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu.
Nhật Bản thúc đẩy dự trữ chiến lược trong khu vực
Một trong những đề xuất tham vọng nhất đến từ Nhật Bản. Dù phụ thuộc lớn vào năng lượng Trung Đông, Nhật Bản ứng phó tốt hơn nhiều nước nhờ sở hữu một trong những kho dự trữ dầu chiến lược lớn nhất thế giới.
Tokyo muốn các nước Đông Nam Á đi theo mô hình này. Tháng 4, Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi công bố sáng kiến POWER Asia trị giá 10 tỷ USD, nhằm hỗ trợ các nền kinh tế Đông Nam Á mua dầu và sản phẩm dầu khí, đồng thời xây dựng kho dự trữ chiến lược về dài hạn.
Thái Lan có khoảng 61 ngày dự trữ từ cả khu vực công và tư nhân, so với mức tối thiểu bắt buộc 25 ngày. Philippines được ước tính có khoảng 50-60 ngày nguồn cung trong các kho thương mại tư nhân. Tất cả đều thấp hơn mức chuẩn 90 ngày của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA).
Khủng hoảng đã thúc đẩy Bangkok và Manila nối lại kế hoạch xây dựng kho dự trữ dầu chiến lược do nhà nước quản lý. Philippines đã thông qua tại một ủy ban quốc hội dự luật thành lập kho dự trữ tương đương 60 ngày tiêu thụ.
Tại Thái Lan, chính phủ đang thúc đẩy kế hoạch xây dựng đường ống dầu thô xuyên bán đảo và các bể chứa, nhằm trở thành trung tâm lưu trữ dầu thô vùng Vịnh cạnh tranh với Singapore.
Các nước lớn tăng dự trữ và đưa dầu đến gần thị trường hơn
Ấn Độ cũng đang xem xét lại chiến lược dự trữ. Đến tháng 5, nước này có lượng dầu tồn kho tương đương khoảng 74 ngày, hơn 90% do các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ.
Tháng 7, ONGC công bố kế hoạch xây dựng kho dự trữ 1,75 triệu tấn, tương đương 13 triệu thùng, tại miền Nam Ấn Độ. Kế hoạch này bổ sung cho mục tiêu mở rộng kho hiện có thêm 6,5 triệu tấn.
Trong khi đó, các nền kinh tế lớn ở châu Á đang tìm cách lưu trữ dầu trực tiếp tại các nước vùng Vịnh.
Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore vốn đã có các thỏa thuận lưu trữ dầu với nhiều nước Trung Đông và đang xem xét mở rộng công suất hoặc ký thêm các thỏa thuận mới. Ấn Độ cũng được cho là đang thảo luận những phương án tương tự.
Theo Observer Research Foundation, UAE/ADNOC hiện đã lưu trữ dầu tại Singapore, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản; Kuwait và Ả Rập Xê-út cũng có kho dự trữ tại Hàn Quốc và Nhật Bản.
ADNOC muốn nâng công suất lưu trữ dầu thô tại Ấn Độ lên 30 triệu thùng. New Delhi cũng đang xem xét lưu trữ một phần dầu dự trữ chiến lược tại Fujairah, cảng của UAE nằm trên vịnh Oman và không phụ thuộc trực tiếp vào điểm nghẽn Hormuz.
Hàn Quốc được cho là đang cân nhắc tăng kho dự trữ thêm 30-40 triệu thùng, cao hơn kế hoạch ban đầu là 20 triệu thùng.
Trung Quốc tăng đầu tư vào an ninh năng lượng
Với Trung Quốc - nước tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới sau Mỹ - việc eo biển Hormuz bị gián đoạn càng củng cố quan điểm rằng an ninh năng lượng cần được tăng cường.
Kế hoạch 5 năm mới nhất của Bắc Kinh cho giai đoạn 2026-2030 bao gồm mở rộng đường ống, tăng công suất lưu trữ LNG và đẩy mạnh khoan nước sâu.
PipeChina, doanh nghiệp nhà nước vận hành hệ thống đường ống, cho biết tháng 5 rằng họ đang đẩy nhanh gần 40 dự án dầu khí, trong đó có khoảng 9.000 km đường ống nội địa.
Các kế hoạch này được xây dựng trước khi xung đột Iran xảy ra, nhưng theo chuyên gia năng lượng David Fishman, cuộc khủng hoảng đã củng cố lý do để Trung Quốc thực hiện chúng. Những lo ngại trước đây về chi phí xây dựng các kho dự trữ có thể dư thừa nay đã giảm đáng kể.
Từ “nguồn dầu tiếp theo ở đâu?” sang “làm sao để giảm nhu cầu?”
Điểm chung của các nước châu Á là muốn giảm phụ thuộc vào một loại nhiên liệu, một nhà cung cấp hoặc một điểm nghẽn vận tải duy nhất.
Vấn đề giờ đây không chỉ là nguồn dầu tiếp theo sẽ đến từ đâu, mà còn là dầu sẽ được vận chuyển đến bằng cách nào, có thể duy trì hoạt động trong bao lâu nếu nguồn cung bị gián đoạn, và liệu có thể giảm hoàn toàn nhu cầu đối với nguồn dầu đó hay không?