Hoàn thiện thể chế - khơi thông nguồn lực năng lượng

“Đánh thức” tiềm năng cho hệ sinh thái năng lượng mới

0:00 0:00
Với tiềm năng kỹ thuật khoảng 600.000 MW, điện gió ngoài khơi không chỉ là nguồn điện sạch quy mô lớn mà còn là nền tảng để phát triển hydrogen, amoniac xanh và xuất khẩu năng lượng. Để hiện thực hóa hệ sinh thái năng lượng mới này, Luật Điện lực (sửa đổi) cần xây dựng một hành lang pháp lý đủ rộng, đủ linh hoạt cho các mô hình phát triển trong tương lai.

Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.000km và điều kiện gió thuận lợi tại nhiều vùng biển. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh xác định tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi (ĐGNK) khoảng 600.000 MW. Đây là nguồn điện sạch quy mô lớn có thể bổ sung cho hệ thống điện quốc gia, đa dạng hóa nguồn cung và củng cố an ninh năng lượng. Quy hoạch cũng đặt mục tiêu công suất phục vụ nhu cầu điện trong nước đạt 6.000-17.032 MW trong giai đoạn 2030-2035 và 113.503-139.097 MW vào năm 2050. Nguồn điện này sẽ tạo nhu cầu cho cảng biển, cơ khí chế tạo, xây lắp, vận tải và dịch vụ kỹ thuật.

Bên cạnh cấp điện lên lưới, nguồn gió ngoài khơi còn có thể mở ra hai nguồn giá trị mới: điện có thể truyền qua cáp để xuất khẩu, hoặc cấp cho thiết bị điện phân nước tạo hydrogen xanh và amoniac xanh. Các sản phẩm này phù hợp với nhu cầu nguyên liệu, nhiên liệu phát thải thấp trong hóa chất, phân bón, luyện kim, hàng hải và thương mại quốc tế.

Từ điện sạch đến nhiên liệu xanh

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã dành dư địa đáng kể cho ĐGNK gắn với sản xuất năng lượng mới, đồng thời mở rộng định hướng xuất khẩu điện từ các nguồn tái tạo. Riêng ĐGNK phục vụ sản xuất “năng lượng mới” được ước tính khoảng 15.000 MW vào năm 2035 và khoảng 240.000 MW vào năm 2050. Đối với xuất khẩu điện từ các nguồn năng lượng tái tạo, mục tiêu đến năm 2035 đạt khoảng 5.000-10.000 MW sang Singapore, Malaysia và các đối tác khác trong khu vực. Các con số này cho thấy điện, nhiên liệu xanh và thương mại năng lượng đã cùng xuất hiện trong tầm nhìn quy hoạch dài hạn.

ĐGNK có thể cung cấp năng lượng cho các dự án sản xuất hydrogen và amoniac xanh. Các sản phẩm này phục vụ khách hàng trong nước hoặc xuất khẩu theo định hướng của Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen. Đây là đầu ra khác của nguồn điện ngoài khơi bên cạnh cấp điện lên lưới và xuất khẩu điện.

Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đặt hydrogen trong một chuỗi hoàn chỉnh gồm sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối, sử dụng trong nước và xuất khẩu, đi cùng hạ tầng đồng bộ (ảnh minh họa)
Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đặt hydrogen trong một chuỗi hoàn chỉnh gồm sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối, sử dụng trong nước và xuất khẩu, đi cùng hạ tầng đồng bộ (ảnh minh họa)

Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen của Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất 100.000-500.000 tấn mỗi năm vào năm 2030 và 10-20 triệu tấn vào năm 2050. Các mục tiêu này tạo mối liên hệ trực tiếp giữa quy hoạch nguồn điện tái tạo với chiến lược phát triển một ngành năng lượng mới phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Luật Điện lực hiện hành đã tạo nền tảng cho hướng phát triển này. Điều 20 xác định thứ tự ưu tiên đối với điện gió trên biển: cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia; tự sản xuất, tự tiêu thụ hoặc sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh phục vụ nhu cầu trong nước; sản xuất điện, hydrogen xanh và amoniac xanh để xuất khẩu. Ba hướng sử dụng vì thế đã có cơ sở trực tiếp trong luật.

Chiến lược phát triển hydrogen của Việt Nam cũng đặt hydrogen trong một chuỗi hoàn chỉnh gồm sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối, sử dụng trong nước và xuất khẩu, đi cùng hạ tầng đồng bộ. Chiến lược đồng thời giao nhiệm vụ bổ sung chính sách phát triển hydrogen trong Luật Điện lực; ban hành quy định về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án ĐGNK và dự án sản xuất, xuất khẩu hydrogen, amoniac sử dụng năng lượng tái tạo; rà soát tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Đây là những nhiệm vụ chính sách đã được xác định trong Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược.

Chiến lược còn định hướng thí điểm các dự án sản xuất hydrogen sạch quy mô nhỏ trong giai đoạn đầu, sau đó phát triển dự án hydrogen xanh quy mô lớn tại khu vực giàu năng lượng tái tạo, gần khách hàng và thuận lợi cho xuất khẩu. Như vậy, sự liên kết giữa nguồn điện tái tạo, sản xuất hydrogen và thị trường tiêu thụ đã hiện diện trong chiến lược quốc gia, cùng lộ trình từ thí điểm đến mở rộng quy mô.

Yêu cầu khung pháp lý cho nhiều hướng phát triển

Tại Diễn đàn “Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030”, ông Bùi Vĩnh Thắng, Giám đốc quốc gia của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu tại Việt Nam, cho rằng chính sách cần xác định rõ phạm vi, mục tiêu và cách thực hiện cho dự án cấp điện trong nước và dự án xuất khẩu năng lượng. Trong khi đó, ông Trần Hoài Trang, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, nêu định hướng áp dụng cơ chế riêng cho dự án vận hành độc lập, xuất khẩu điện hoặc sản xuất hydrogen, amoniac xanh. Các đánh giá cho thấy, việc phân định theo đầu ra cần được thể hiện ngay trong quy hoạch, chủ trương đầu tư và thiết kế dự án, bởi mỗi hướng sử dụng điện gắn với một hệ thống hạ tầng, hợp đồng và thị trường riêng.

Sự khác nhau về đầu ra cũng mở rộng phạm vi của một dự án ĐGNK. PGS.TS Lê Quang Duyến, Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho rằng, ĐGNK cùng hệ thống lưu trữ sẽ trở thành các trụ cột mới của hệ thống năng lượng quốc gia; từ đó đề xuất xác định rõ vai trò của lưu trữ năng lượng và đầu tư đồng bộ lưới điện, cảng biển, logistics. Với dự án cấp điện trong nước, lưới truyền tải và lưu trữ tạo điều kiện đưa nguồn điện vào hệ thống ổn định. Với dự án sản xuất hydrogen, amoniac xanh, cảng biển, kho chứa và dịch vụ vận chuyển kết nối nguồn năng lượng ngoài khơi với khách hàng trong nước hoặc thị trường xuất khẩu. Định hướng này hoàn toàn phù hợp với Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen, trong đó hạ tầng được xây dựng đồng bộ với toàn bộ quá trình từ sản xuất đến sử dụng và xuất khẩu.

Các dự án ĐGNK có vòng đời dài, trong khi công nghệ và thị trường năng lượng tiếp tục phát triển. TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh, yêu cầu về một khung pháp lý ổn định, minh bạch, khả thi và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhà đầu tư. Trong khi đó, PGS.TS Lê Bộ Lĩnh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đề xuất luật quy định nguyên tắc mở và giao Chính phủ triển khai chi tiết theo từng giai đoạn. Theo hướng này, luật tạo nền tảng ổn định cho quyết định đầu tư dài hạn, còn văn bản hướng dẫn cập nhật tiêu chí kỹ thuật, thị trường và thủ tục theo sự phát triển của từng loại dự án.

Mở rộng giá trị của ĐGNK

Việc cụ thể hóa cơ chế cho từng loại dự án sẽ đưa các mục tiêu trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen gần hơn với khả năng triển khai. Khi phạm vi, mục tiêu và cách áp dụng chính sách được làm rõ, nhà đầu tư có thể chủ động hơn trong huy động vốn, khảo sát và chuẩn bị hạ tầng. Một khung pháp lý ổn định, minh bạch và khả thi sẽ tạo nền tảng cho các quyết định đầu tư dài hạn trong lĩnh vực có quy mô vốn lớn và thời gian chuẩn bị kéo dài như ĐGNK.

Đối với hệ thống điện, lợi ích nằm ở khả năng kết hợp mục tiêu phát triển thị trường và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng. Điều 20 Luật Điện lực hiện hành đã đặt điện phục vụ hệ thống quốc gia và nhu cầu trong nước trước xuất khẩu. Việc cụ thể hóa tiêu chí an ninh năng lượng sẽ giúp cơ quan quản lý có cơ sở xem xét hoạt động xuất khẩu theo tình hình cung - cầu từng thời kỳ, đồng thời giúp nhà đầu tư đánh giá tính khả thi của dự án. Phát triển đồng bộ lưu trữ và lưới điện còn góp phần điều hòa phụ tải, giảm áp lực cho lưới và nâng cao độ ổn định của hệ thống.

Đối với hydrogen và amoniac xanh, Luật Điện lực (sửa đổi) có thể tạo cơ sở pháp lý để thực hiện những nhiệm vụ đã được Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen xác định, gồm bổ sung chính sách phát triển, quy định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư và hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn. Khi nguồn điện tái tạo được kết nối với các khâu sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối, sử dụng và xuất khẩu, ĐGNK có thêm đầu ra bên cạnh cấp điện lên lưới. Lợi ích của cách tiếp cận này là gắn mục tiêu phát triển nguồn điện với mục tiêu hình thành thị trường hydrogen trong nước và hướng tới xuất khẩu.

Về dài hạn, giá trị lớn nhất của lần sửa đổi Luật Điện lực này là đặt ĐGNK trong quan hệ với toàn bộ hệ thống năng lượng và nền kinh tế. Một khung pháp lý ổn định, được triển khai theo từng giai đoạn, sẽ tạo cơ sở để kết nối quy hoạch nguồn điện với lưới điện, cảng biển, lưu trữ, sản xuất hydrogen, amoniac xanh và thị trường tiêu thụ. Khi đó, cùng một nguồn tài nguyên gió ngoài khơi có thể tạo điện cho hệ thống quốc gia, cung cấp năng lượng cho công nghiệp và hình thành sản phẩm xuất khẩu. Tư duy hệ sinh thái vì thế giúp Luật Điện lực đồng thời phục vụ ba mục tiêu dài hạn: củng cố an ninh năng lượng, nâng cao giá trị kinh tế của tài nguyên tái tạo và mở rộng khả năng tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng năng lượng sạch.

Việc cụ thể hóa cơ chế cho từng loại dự án sẽ đưa các mục tiêu trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh và Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen gần hơn với khả năng triển khai. Khi phạm vi, mục tiêu và chính sách được làm rõ, nhà đầu tư có thể chủ động hơn trong huy động vốn, khảo sát và chuẩn bị hạ tầng.

Related News