Dấu ấn người Việt làm chủ công nghệ dầu khí biển

15/10/2026 123 lượt xem Tác giả: Kiều Linh
Năm 1991, ông Ngô Thường San trở thành Tổng Giám đốc người Việt Nam đầu tiên của Liên doanh Dầu khí Việt - Xô (nay là Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro), đánh dấu bước ngoặt trong hành trình làm chủ công nghệ và điều hành hoạt động dầu khí biển của nguồn nhân lực trong nước. Đằng sau cột mốc ấy là một lựa chọn mang tính chiến lược: Không bằng lòng với vai trò tiếp nhận công nghệ, người lao động Dầu khí Việt Nam từng bước vượt qua sự thiếu hụt về nhân lực, kinh nghiệm và điều kiện kỹ thuật để tự mình đảm nhận những công việc phức tạp nhất. Đó là một trong những lựa chọn đầy bản lĩnh, góp phần đặt nền móng cho sự trưởng thành và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam.
0:00 0:00

Ông Ngô Thường San, nguyên Tổng Giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam), nguyên Tổng Giám đốc Vietsovpetro:
Ông Ngô Thường San, nguyên Tổng Giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam), nguyên Tổng Giám đốc Vietsovpetro: "Từ năm 1959, Đảng và Bác Hồ đã đặc ra mục tiêu phải làm chủ thật sự những công nghệ lõi, thật sự là những chuyên gia, người điều hành trực tiếp, quản lý đồng bộ chuỗi công nghệ, kể cả tham gia thiết kế và chế tạo thiết bị"

Từ câu chuyện chiếc bulông đến yêu cầu tự chủ công nghệ

Mong muốn xây dựng ngành dầu khí có khả năng làm chủ công nghệ đã được đặt ra từ sớm. Năm 1959, trong chuyến thăm khu công nghiệp dầu khí Baku ở Azerbaijan, khi đó thuộc Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ mong muốn Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng một ngành dầu khí hoàn chỉnh. Ông Ngô Thường San nhìn nhận định hướng ấy được lãnh đạo Đảng và Nhà nước kiên trì theo đuổi trong quá trình xây dựng ngành.

Ông nêu rõ: “Mục tiêu của chúng ta là phải làm chủ thật sự những công nghệ lõi, thật sự là những chuyên gia, người điều hành trực tiếp, quản lý đồng bộ chuỗi công nghệ, kể cả tham gia thiết kế và chế tạo thiết bị”.

Mục tiêu này cũng lý giải vì sao lãnh đạo Chính phủ thường xuyên quan tâm đến mức độ làm chủ công việc của cán bộ Việt Nam tại Vietsovpetro. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Đỗ Mười và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần hỏi phía Việt Nam về khả năng tham gia điều hành của đội ngũ trong nước, cũng như việc sản xuất phụ tùng, vật tư trong nước thay cho hàng nhập khẩu.

Một lần kiểm tra tiến độ xây lắp khối chân đế giàn khoan MSP-1, đồng chí Đỗ Mười, khi đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, bất ngờ đặt ra câu hỏi: "Mỗi chân đế có bao nhiêu bulông và mối nối?". Ông San cho biết, câu hỏi tưởng chừng đơn giản này lại khiến nhiều cán bộ, kỹ sư ngỡ ngàng - nhưng đồng thời chạm đúng điểm yếu của ngành dầu khí lúc bấy giờ: Việt Nam chưa thực sự làm chủ những chi tiết cấu thành công trình mà mình đang xây dựng.

Ông San lý giải: “Mọi chi tiết, phụ tùng vật tư đều phải nhập từ Liên Xô, từ Baku... vượt hàng tháng trời, ngược dòng Volga, qua Biển Bắc, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương mới đến Việt Nam. Do đó mà tiến độ công trình, dự án chúng ta chưa thể chủ động".

Khi đó Việt Nam đã có Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy cơ khí Sông Công và nguồn thép CT-5, nhưng chưa đủ năng lực sản xuất các cấu kiện, phụ tùng phục vụ công trình dầu khí ngoài khơi. Việc phải nhập khẩu từng chi tiết làm chậm tiến độ thi công, đồng thời bộc lộ khoảng cách giữa mục tiêu tự chủ với khả năng thiết kế, chế tạo trong nước. Theo ông San, những câu hỏi về khả năng tự lực khi ấy và lời giải của nó sẽ góp phần đặt nền móng cho ngành cơ khí thiết kế, chế tạo dầu khí sau này.

Trong điều kiện lúc bấy giờ, tiếp tục dựa vào nguồn cung thiết bị, vật tư và công nghệ từ Liên Xô là con đường thuận lợi hơn về trước mắt. Nhưng sự phụ thuộc ấy cũng đồng nghĩa với việc tiến độ và khả năng chủ động sản xuất luôn bị chi phối bởi những yếu tố bên ngoài. Bởi vậy, lựa chọn xây dựng năng lực thiết kế, chế tạo trong nước, dù phải bắt đầu từ những chi tiết nhỏ nhất, mang ý nghĩa chiến lược: từng bước chuyển từ tiếp nhận công nghệ sang làm chủ công nghệ.

Bài toán nhân lực cũng cấp thiết không kém. Ông San nhớ lại: “Khi bắt đầu hợp tác với phía Liên Xô trong Liên doanh, nguồn cán bộ của ta đều thiếu và yếu”. Dù rằng ngay từ cuối thập niên 1950, Đảng và Nhà nước đã cử sinh viên sang Đại học Dầu khí Gubkin ở Moskva và các trường tại các nước XHCN. Sau khi trở về, nhiều người trực tiếp tham gia hoạt động của liên doanh. Một số cán bộ còn được cử đi thực tập, khảo sát tại các nước phương Tây trong thời kỳ hợp tác với các công ty dầu khí quốc tế.

Tuy nhiên, kiến thức lý thuyết chưa đủ để đảm nhiệm công việc trong môi trường khai thác dầu khí biển. Ông San phân tích: “Công nghiệp dầu khí là chuỗi công nghệ liên hoàn đồng bộ, mỗi quyết định có khi có giá trị hàng chục triệu USD”. Người làm nghề vì thế phải nắm chắc quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật, cách thu thập và lưu trữ thông tin, đồng thời hiểu rõ quyền hạn, trách nhiệm của mình. Kỷ luật an toàn lao động và phòng chống cháy nổ cũng là yêu cầu bắt buộc.

Đào tạo ban đầu do đó phải trang bị cả kiến thức chuyên môn lẫn phương pháp tổ chức công việc. Cán bộ cần hiểu quy chế, quy trình và cách phối hợp trách nhiệm giữa các bộ phận theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang để hoạt động sản xuất diễn ra thông suốt.

Ngay khi Vietsovpetro hình thành tổ chức và xác định các chức danh cụ thể, những cán bộ giữ vị trí phó tổng giám đốc, trưởng phòng và giám đốc các xí nghiệp trực thuộc được cử sang Xí nghiệp liên hợp dầu khí Baku thực tập từ 4 đến 6 tháng. Họ làm việc theo đúng cương vị sẽ đảm nhiệm khi trở về Việt Nam, qua đó tích lũy kinh nghiệm thực tế và chuẩn bị tiếp nhận công việc tại liên doanh.

Ngày 24/5/1984, tàu khoan Mikhain Mirchin phát hiện dầu trong tầng móng tại giếng BH5.
Ngày 24/5/1984, tàu khoan Mikhain Mirchin phát hiện dầu trong tầng móng tại giếng BH5.

Từ học việc đến đảm nhận quyền điều hành

Trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, quá trình đào tạo và chuyển giao công nghệ tại Vietsovpetro được triển khai theo phương châm “Cầm tay chỉ việc - Cùng làm - Tự chủ và Sáng tạo”. Cán bộ Việt Nam và chuyên gia Liên Xô làm việc song song ở những vị trí tương ứng, cùng tham gia vận hành, quản lý và xử lý công việc. Kỹ sư Việt Nam trực tiếp thực hành dưới sự hướng dẫn của chuyên gia, tích lũy kinh nghiệm ngay trong quá trình sản xuất.

Đào tạo cán bộ được xác định thành chủ trương và quy định trong Hiệp định cũng như Điều lệ hoạt động của liên doanh. Thời gian đầu, cán bộ Việt Nam chủ yếu giữ chức vụ cấp phó, trong khi chuyên gia Liên Xô đảm nhiệm các vị trí chủ chốt; có giai đoạn lực lượng chuyên gia Liên Xô chiếm gần 40% tổng số cán bộ, công nhân viên. Phía Việt Nam chủ động chuẩn bị nhân sự kế cận, từng bước thay thế chuyên gia nước ngoài khi đội ngũ trong nước đủ năng lực.

Lựa chọn ấy đòi hỏi cả quyết tâm và sự kiên trì. Giữ nguyên sự phân công ban đầu, để các chuyên gia Liên Xô tiếp tục đảm nhiệm những vị trí chủ chốt, có thể giúp giảm bớt áp lực trong ngắn hạn. Nhưng nếu không mạnh dạn giao việc, trao quyền và đặt cán bộ Việt Nam trước những trách nhiệm thực tế, mục tiêu tự chủ sẽ khó trở thành hiện thực. Quá trình chuyển giao vì thế còn là quá trình xây dựng niềm tin vào năng lực của chính đội ngũ trong nước.

Giai đoạn 1981-1985, phía Liên Xô giữ quyền điều hành chính. Sang giai đoạn 1986-1990, quá trình chuyển giao được đẩy nhanh, bắt đầu ở các vị trí kỹ sư trưởng, giàn phó phụ trách kỹ thuật, sau đó là giàn trưởng điều hành độc lập. Cán bộ Việt Nam dần đảm nhận những khâu công nghệ cốt lõi như khoan, khai thác, hậu cần, dịch vụ kỹ thuật và xây lắp công trình biển.

Việc chuyển giao trở nên cấp bách hơn từ năm 1986, khi Liên Xô triển khai chính sách cải tổ còn Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới. Vietsovpetro phải hoạt động hiệu quả như một đơn vị sản xuất, kinh doanh, tuân thủ pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế của ngành dầu khí. Cơ chế hạch toán bao cấp không còn phù hợp, đặt ra yêu cầu sửa đổi Hiệp định liên chính phủ thành lập liên doanh ký ngày 19-6-1981.

Sau hơn 40 năm hoạt động, Vietsovpetro đã đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 80 tỷ USD. Liên doanh cũng xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, dịch vụ kỹ thuật đồng bộ và đào tạo nhiều thế hệ chuyên gia có khả năng tự chủ điều hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí biển.
Sau hơn 40 năm hoạt động, Vietsovpetro đã đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 80 tỷ USD. Liên doanh cũng xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, dịch vụ kỹ thuật đồng bộ và đào tạo nhiều thế hệ chuyên gia có khả năng tự chủ điều hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí biển.

Trong giai đoạn chuyển đổi ấy, kết quả thăm dò dầu khí góp phần khẳng định năng lực của đội ngũ Việt Nam. Sau khi tầng Miocen quanh giếng BH-1 không đạt kỳ vọng, dầu thương mại được tìm thấy ở tầng Oligocen và tại các khu vực Rồng, Sói, Đại Hùng, mở ra triển vọng mới. Đặc biệt, sản lượng dầu cao từ tầng đá móng tại mỏ Bạch Hổ càng củng cố niềm tin vào năng lực của đội ngũ địa chất và kỹ thuật Việt Nam.

Những kết quả này cho thấy các chuyên gia Việt Nam đã có thể đánh giá dữ liệu địa chất, giải quyết vấn đề kỹ thuật và tham gia trực tiếp vào các quyết định quan trọng trong hoạt động thăm dò, khai thác. Năng lực được chứng minh qua thực tiễn góp phần củng cố niềm tin của lãnh đạo phía Liên Xô, tạo điều kiện để cán bộ Việt Nam tiếp nhận các vị trí điều hành và kỹ thuật chủ chốt trong liên doanh.

Năm 1991, ông Ngô Thường San được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Vietsovpetro, nhiệm kỳ 1991-1996. Trên cương vị này, ông chịu trách nhiệm duy trì sản xuất, bảo đảm hiệu quả hoạt động của liên doanh và tiếp tục nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Ông chia sẻ về sức nặng của vị trí người đứng đầu phía Việt Nam: “Vì tôi là người đứng đầu Liên doanh phía Việt Nam nên phải đứng mũi chịu sào nếu có những quyết định sai lầm”.

Việc một người Việt Nam đảm nhận vị trí điều hành cao nhất tại Vietsovpetro vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài sự thay đổi nhân sự. Đó là bước chuyển từ quá trình học hỏi, tiếp nhận kinh nghiệm sang trực tiếp quyết định và chịu trách nhiệm về hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Đằng sau cột mốc năm 1991 là cả một quá trình chuẩn bị năng lực, đồng thời là sự lựa chọn chấp nhận những trách nhiệm lớn hơn để khẳng định khả năng làm chủ của người Việt trên các công trình dầu khí biển.

Trách nhiệm điều hành gắn liền với đặc điểm tổ chức của Vietsovpetro. Liên doanh được xây dựng theo mô hình tích hợp, kết nối hoạt động quản lý, sản xuất, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ kỹ thuật và công nghệ phụ trợ. Có ý kiến cho rằng mô hình này mang tính bao cấp, chưa chuyên sâu theo từng lĩnh vực và khác với cách tổ chức của các công ty dầu khí quốc tế. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam chịu cấm vận, cơ sở vật chất hạn chế và đội ngũ thiếu kinh nghiệm thực tế, mô hình tích hợp giúp các bộ phận phối hợp chặt chẽ, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ Việt Nam hiểu mối liên hệ giữa nhiều khâu trong chuỗi công nghệ.

Nhìn lại lựa chọn này, ông San nhận định: “Trong bối cảnh bị cấm vận, và phát triển gần như từ số ‘0’ thì mô hình phát triển kiểu Vietsovpetro là hợp lý, và mang lại hiệu quả”. Việc làm việc trong một tổ chức kết nối nhiều khâu giúp kỹ sư và cán bộ quản lý Việt Nam tích lũy kinh nghiệm, hiểu cách vận hành toàn hệ thống và phối hợp xử lý những vấn đề phát sinh trong sản xuất.

Hoạt động khai thác dầu khí ở mỏ Bạch Hổ của Liên doanh Vietsovpetro (Ảnh: Vương Thái)
Hoạt động khai thác dầu khí ở mỏ Bạch Hổ của Liên doanh Vietsovpetro (Ảnh: Vương Thái)

Sau hơn 40 năm hoạt động, Vietsovpetro đã đóng góp cho ngân sách nhà nước trên 80 tỷ USD. Liên doanh cũng xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, dịch vụ kỹ thuật đồng bộ và đào tạo nhiều thế hệ chuyên gia có khả năng tự chủ điều hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí biển.

Nhiều cán bộ trưởng thành từ Vietsovpetro sau đó đảm nhiệm các vị trí quản lý quan trọng tại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, sau này là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM), cùng các đơn vị thành viên. Kinh nghiệm tích lũy trong quá trình hợp tác với chuyên gia Liên Xô cũng tạo điều kiện để đội ngũ trong nước phát triển năng lực nghiên cứu. Ông San đánh giá các chuyên gia Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho khoa học dầu khí, với những công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ.

Với ông Ngô Thường San, quá trình công tác tại Vietsovpetro và sau đó lãnh đạo Tổng công ty Dầu khí Việt Nam gắn liền với chặng đường ngành dầu khí xây dựng lực lượng chuyên gia và năng lực điều hành trong nước. Di sản của quá trình ấy là đội ngũ có khả năng đảm nhận công việc kỹ thuật phức tạp, phát triển tri thức chuyên ngành, tạo nền tảng nội sinh để chủ động hơn trong tổ chức sản xuất dầu khí biển.

Từ câu chuyện của ông Ngô Thường San và thế hệ những người đặt nền móng cho Vietsovpetro, có thể nhận ra một phẩm chất xuyên suốt hành trình 65 năm của ngành Dầu khí Việt Nam: bản lĩnh lựa chọn con đường phát triển phù hợp với lợi ích lâu dài, ngay cả khi con đường ấy nhiều thử thách. Từ những ngày phải nhập khẩu từng chiếc bulông đến khi người Việt trực tiếp điều hành các công trình dầu khí biển, mỗi bước tiến đều gắn với khát vọng tự chủ và quyết tâm vượt qua giới hạn của chính mình. Những lựa chọn không xuôi dòng năm ấy đã góp phần tạo nên nền tảng năng lực, bản lĩnh và vị thế của PETROVIETNAM hôm nay.

Chia sẻ: