Cảng, bãi chế tạo cần đi trước trong xây dựng trung tâm năng lượng tái tạo

21/09/2026 60 lượt xem Tác giả: Phương Thảo
Quy mô phát triển năng lượng tái tạo ngày càng lớn đang đặt ra yêu cầu Việt Nam phải sớm hình thành các trung tâm công nghiệp - dịch vụ năng lượng tái tạo (NLTT), với hạ tầng tích hợp từ cảng biển, bãi chế tạo, lưới điện đến logistics, O&M, khu công nghiệp xanh, R&D và đào tạo.
0:00 0:00

Cảng dịch vụ của PTSC có thể được tận dụng tối đa cho mô hình trung tâm NLTT.
Cảng dịch vụ của PTSC có thể được tận dụng tối đa cho mô hình trung tâm NLTT.

Cảng, bãi chế tạo và lưới điện phải đi trước

Theo tính toán của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh định hướng đến năm 2050, quy mô năng lượng tái tạo tiếp tục tăng mạnh: điện gió trên bờ, gần bờ đạt 84,7-91,4 nghìn MW; điện gió ngoài khơi 113,6-140 nghìn MW; điện mặt trời 293-295,6 nghìn MW; điện sinh khối 4,8-6,7 nghìn MW; điện từ rác 1,8-2,1 nghìn MW và địa nhiệt, năng lượng mới khác 464 MW.

Quy mô công suất NLTT có thể đạt khoảng 81,5-133,4 GW vào năm 2030 và 498,4-535,7 GW vào năm 2050. Đây là quy mô cho thấy bài toán phát triển NLTT không còn đơn thuần là xây dựng thêm các nhà máy điện, mà đòi hỏi một hệ thống công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng đi kèm đủ lớn.

Riêng điện gió ngoài khơi, định hướng khoảng 6-17 GW trong giai đoạn 2030-2035 và 114-140 GW vào năm 2050 để cấp điện trong nước; đồng thời phát triển điện gió ngoài khơi phục vụ sản xuất năng lượng mới như hydro, amoniac. Tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi được ghi nhận khoảng 600 GW.

Tăng trưởng NLTT tới 2050 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.
Tăng trưởng NLTT tới 2050 theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh.

Với quy mô này, trung tâm NLTT không thể chỉ là một cảng hay một khu công nghiệp riêng lẻ. Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) nhận định, trung tâm cần tích hợp 6 chức năng: cảng và hậu cần hàng hải; sản xuất, chế tạo; căn cứ O&M; lưới điện và hạ tầng dùng chung; R&D, thử nghiệm và nhân lực; sản xuất năng lượng mới như hydro, amoniac và phục vụ xuất khẩu.

Trong bối cảnh đó, việc hình thành “trung tâm công nghiệp - dịch vụ NLTT liên vùng” là giải pháp cốt lõi để thúc đẩy ngành năng lượng xanh. Theo định hướng được dẫn từ Quyết định 768/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 dự hình thành 2 trung tâm công nghiệp - dịch vụ NLTT liên vùng, bao gồm sản xuất, truyền tải và tiêu thụ điện; công nghiệp chế tạo thiết bị NLTT; xây dựng, lắp đặt, dịch vụ liên quan và hệ sinh thái công nghiệp NLTT tại các khu vực có tiềm năng như Bắc Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ khi có điều kiện thuận lợi.

Đối với cấu trúc của trung tâm, Cục Điện lực - Bộ Công Thương cho rằng, cảng chuyên dụng là một trong những “xương sống” đầu tiên. Điện gió ngoài khơi sử dụng các cấu kiện siêu trường, siêu trọng; riêng móng giàn có thể nặng tới 2.500 tấn. Hạ tầng cảng phải đáp ứng yêu cầu về luồng tàu, mớn nước, sức chịu tải, diện tích bãi và không gian lắp ráp.

Cục Điện lực đưa ra các thông số đáng chú ý: tải trọng nền cảng và cầu bến 15-25 tấn/m², quỹ đất lắp ráp đứng khoảng 30 ha/1 GW và suất đầu tư hạ tầng thô cho bãi cảng khoảng 1 tỷ euro/100 ha.

Do đó, quy hoạch cảng phải được tính toán ngay từ đầu với luồng hàng hải và mớn nước đủ sâu cho tàu lắp đặt turbine chuyên dụng (WTIV) và tàu vận tải siêu trọng. Trên nền cảng cần hình thành bãi chế tạo, khu trung chuyển, logistics và căn cứ O&M, đồng thời quy hoạch lưới điện đấu nối, trạm biến áp và hành lang truyền tải.

Trong khi đó, VPI nhấn mạnh vai trò của trạm biến áp trên bờ, hành lang tuyến và năng lực truyền tải sẵn có khi lựa chọn địa điểm. Sau lớp hạ tầng nền tảng này mới từng bước mở rộng sang các nhà máy chế tạo, khu công nghiệp xanh, R&D, thử nghiệm và đào tạo. Các cấu phần không nhất thiết phải triển khai đồng loạt; riêng đào tạo nhân lực có thể đi trước một bước để chuẩn bị nhu cầu trong 5-10 năm tới.

Tiềm năng xây dựng Trung tâm năng lượng tái tạo tại 3 vùng

Theo quan điểm của VPI, ba vùng ven biển có tiềm năng đang thể hiện 3 logic phát triển khác nhau.

Hệ sinh thái trung tâm NLTT.
Hệ sinh thái trung tâm NLTT.

Với Bắc Bộ, cụm Quảng Ninh - Hải Phòng có lợi thế về công nghiệp, cảng biển, logistics và phụ tải. Khu vực này nằm gần các trung tâm tiêu thụ lớn ở phía Bắc, có nền tảng sản xuất tốt và khả năng kết nối với Đông Bắc Á. Tuy nhiên, tài nguyên gió ở mức trung bình và Vịnh Bắc Bộ có đặc điểm nước nông.

Nam Trung Bộ có logic phát triển dựa trên tài nguyên gió. VPI đánh giá khu vực Lâm Đồng có tài nguyên gió tốt, hệ số công suất cao ở vùng gần bờ và nước sâu gần bờ thuận lợi cho điện gió nổi trong tương lai. Điểm cần bổ sung là năng lực cảng và lưới điện.

Ở Nam Bộ, trọng điểm Bà Rịa - Vũng Tàu (TP HCM) có lợi thế về tài sản dầu khí và năng lực chế tạo ngoài khơi sẵn có. Các bãi chế tạo của PTSC, Vietsovpetro cùng kinh nghiệm xuất khẩu tạo điều kiện để khu vực này có thể đi trước.

VPI cho rằng, không thể lựa chọn địa điểm chỉ dựa vào tài nguyên gió. Khung sàng lọc cần phải xem xét 6 nhóm tiêu chí: tài nguyên gió và độ sâu đáy biển; năng lực cảng; đấu nối lưới điện; hệ sinh thái công nghiệp; ràng buộc không gian biển; khung chính sách và đầu tư.

Đồng thời phải đánh giá cả quỹ đất, bãi chế tạo hiện hữu, nguồn cung thép và thiết bị, logistics; sàng lọc sớm các vấn đề quốc phòng, hàng hải, ngư nghiệp và môi trường để tránh xung đột ở giai đoạn sau.

Trên cơ sở đó, cả Cục Điện lực và VPI đều có chung một góc nhìn về bài toán quan trọng nhất hiện nay là trình tự đầu tư. Trước hết cần xác định địa điểm và không gian trung tâm trên cơ sở đa tiêu chí; sau đó ưu tiên những hạ tầng có khả năng “mở khóa” chuỗi giá trị gồm cảng chuyên dụng, bãi chế tạo - lắp ráp, logistics và lưới điện đấu nối.

Các cấu phần O&M, khu công nghiệp xanh, R&D và đào tạo có thể phát triển theo từng giai đoạn. Cùng với đó là danh mục dự án đủ dài để tạo niềm tin cho nhà sản xuất thiết bị. Lộ trình được đề xuất cho dự án ổn định 10-25 năm, cơ chế điện xanh tại chỗ và nội địa hóa theo từng bậc để thu hút đầu tư.

Chia sẻ: