Kinh nghiệm vận chuyển dầu nhiều Parafin bằng đường ống ở các mỏ dầu khí ngoài khơi của liên doanh Việt - Nga "Vietsovpetro"
TS. Tống Cảnh Sơn, KS. Lê Đình Hòe - Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro” - Email: sontc.rd@vietsov.com.vn
1
TS. Tống Cảnh Sơn, KS. Lê Đình Hòe - Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro” - Email: sontc.rd@vietsov.com.vn
PGS.TS. Phạm Xuân Núi, KS. Phạm Sơn Tùng - Đại học Mỏ - Địa chất - Email: phamxuannui@gmail.com
PGS.TS. Phạm Xuân Núi, KS. Phạm Sơn Tùng - Đại học Mỏ - Địa chất - Email: phamxuannui@gmail.com
TS. Đỗ Chiếm Tài1, TS. Đàm Thị Thanh Hải - GS.TSKH. A.F. Gogatov - TS. W.A. Sokolenko - Đại học Dầu khí Việt Nam - Viện Hóa học A.E Favorsky, Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga - Viện Hóa học và Công nghệ hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga
TS. Hoàng Văn Long - ThS. Ngọ Văn Hưng - Email: hoangvanlong@humg.edu.vn
TS. Nguyễn Thị Dậu1 - ThS. Phan Văn Thắng - KS. Phan Mỹ Linh2 - ThS. Hoàng Nhật Hưng Email: daunt.epc@gmail.com
TSKH. Trần Xuân Đào - ThS. Nguyễn Thái Sơn - TS. Nguyễn Thế Vinh Email: daotx.rd@vietsov.com.vn
Xúc tác thải từ các nhà máy đạm có chứa nhiều kim loại như Ni, Co, Cr… nên được xếp vào nhóm chất thải nguy hại. Việc nghiên cứu thu hồi Ni để tổng hợp các vật liệu xúc tác xử lý môi trường như xử lý khí thải có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế và môi trường. Trong bài báo này, nhóm tác giả giới thiệu hoạt tính của hệ xúc tác Ni/ γ -Al2O3 ứng dụng trong xử lý CO. Ảnh hưởng của các thông số về điều kiện tổng hợp cũng như hàm lượng Ni trong xúc tác đến tính chất và hoạt tính xúc tác đã được nghiên cứu.
TS. Phan Ngọc Trung, ThS. Phan Minh Quốc Bình TS. Lê Việt Trung, ThS. Lê Ngọc Anh Viện Dầu khí Việt Nam Email: trungpn@vpi.pvn.vn
KS. Hoàng Thanh Tùng, KS. Trịnh Văn Lâm - Công ty TNHH MTV Khoan Dầu khí nước sâu PVD (PVD Deepwater) - Email:tunght@pvdrilling.com.vn
CN. Võ Văn Anh Pha-Viện Dầu khí Việt Nam - Email: phavva.cpse@vpi.pvn.vn
CN. Phan Thị Mỹ Hạnh- Viện Dầu khí Việt Nam Email: hanhptm@vpi.pvn.vn khó khăn của các nhà máy nhiệt điện khí khi tham gia thị trường phát điện cạnh tranh và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.
KS. Đào Văn Tuân, ThS. Trần Mai Khôi, ThS. Vũ An, ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền; ThS. Hoàng Mai Chi, ThS. Tạ Quang Minh, KS. Lương Văn Thưởng, ThS. Nguyễn Văn Nhân - Viện Dầu khí Việt Nam Email: tuandv@vpi.pvn.vn
ThS. Lê Thái Sơn1, ThS. Trần Thanh Phương, ThS. Vũ An1, ThS. Trần Hùng Sơn;ThS. Tạ Quang Minh, ThS. Phan Trọng Hiếu, KS. Cao Huy Hiệp, ThS.Vũ Ngọc Doãn- Email: sonlt@vpi.pvn.vn
Hệ thống nứt nẻ đóng vai trò rất quan trọng đối với khả năng thấm chứa và cho dòng của đá chứa carbonate nứt nẻ. Có nhiều phương pháp địa vật lý giếng khoan được áp dụng để phát hiện và nghiên cứu các đới nứt nẻ như phương pháp hình ảnh giếng khoan FMI-FMS, STAR-CBIL, chỉ số hấp thụ quang điện (photoelectric factor - Pef), điện trở suất, các đường siêu âm, đường mật độ, đường caliper, biểu hiện các đỉnh khí đối với đường cong đo Karota khí... và đồng thời dùng các phương pháp này để xác định độ rỗng nứt nẻ cho đá carbonate
Việc phát hiện thân dầu trong tầng đá móng nứt nẻ đã mở ra kỷ nguyên mới trong công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí. Do cấu trúc địa tầng của mỏ Bạch Hổ khá phức tạp, với sự hiện diện của tầng trầm tích Oligocene trên có áp suất vỉa dị thường cao nên để khoan được đối tượng móng cần phải có cấp ống chống 7” cách ly địa tầng Oligocene này, từ đó sử dụng choòng khoan với cấp đường kính 6½”.
Đặc điểm địa chất của thân dầu trong đá móng mỏ Sư Tử Đen - Sư Tử Vàng khá phức tạp, trong đó có nhiều yếu tố địa chất ảnh hưởng đến khả năng thu hồi dầu như: mức độ bất đồng nhất của mỏ gây ra sự phân chia nhiều khối có các chế độ thủy động lực tương đối riêng biệt, đặc trưng hệ thống đứt gãy và nứt nẻ thứ sinh, nước áp sườn từ các thành hệ Oligocene xâm lấn trong quá trình khai thác [2, 4]. Bài báo giới thiệu một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu và tăng cường ảnh hưởng tích cực của các yếu tố địa chất để nâng cao hệ số thu hồi dầu trong đá móng trước Đệ Tam mỏ Sư Tử Đen - Sư Tử Vàng như: tối ưu hệ thống giếng khai thác, tối ưu chế độ khai thác, hạn chế ảnh hưởng xấu của nước áp sườn và khoan đan dày ở các khối có chế độ thủy động lực riêng biệt
Lưỡng nhiên liệu LPG/diesel được sử dụng khá phổ biến trên thế giới, giúp đa dạng hóa nguồn nhiên liệu, góp phần giảm ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam mới nghiên cứu thử nghiệm hiện trường dạng đơn lẻ. Trong bài báo này, nhóm tác giả giới thiệu một số nguyên tắc thiết kế, lắp đặt, quy trình vận hành để đảm bảo an toàn cho các xe chuyển đổi sang sử dụng lưỡng nhiên liệu LPG/diesel và đề xuất một số giải pháp về cơ chế, chính sách để phát triển bền vững, hiệu quả việc sử dụng lưỡng nhiên liệu LPG/diesel cho giao thông vận tải ở Việt Nam
Trong nghiên cứu này, chất khử nhũ cho nhũ tương tự nhiên giàn MSP801-819 Bạch Hổ được tổng hợp từ polymer keo tụ, dung môi và chất xúc tiến. Dựa trên kết quả thực nghiệm, nhóm tác giả đã lựa chọn ra các thành phần tối ưu cho chất khử nhũ. Nhóm tác giả đã xác định tính năng của chất khử nhũ dựa trên quy trình hướng dẫn thử nghiệm của Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro” (I-VC-03 VSP) và so sánh, đánh giá hiệu quả phá nhũ với chất khử nhũ thương mại đang được sử dụng. Kết quả đánh giá cho thấy, chất khử nhũ chế tạo tương hợp tốt với hóa phẩm deoiler và có hiệu quả phá nhũ tương đương với hóa phẩm thương mại ở nồng độ thử nghiệm 100ppm
Truong Hoai Nam
Bể trầm tích Nam Côn Sơn có điều kiện địa chất rất phức tạp, đặc biệt nhiệt độ cao đến 200oC và gradient áp suất vỉa lên đến 2MPa/100m. Áp suất cao, nhiệt độ cao (HPHT) tiềm ẩn nhiều rủi ro và phức tạp trong quá trình khoan và trám xi măng giếng khoan - một trong những công đoạn có tính chất quyết định đến chất lượng thi công và an toàn. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của HTHP đến các tính chất cơ học của đá xi măng là cơ sở quan trọng để thiết kế đơn pha chế vữa xi măng trám các giếng khoan đạt hiệu quả cao và an toàn